</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 44/BC-UBND Hậu Giang, ngày 10 tháng 4 năm 2018

BÁO CÁO

Đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

trên địa bàn tỉnh Hậu Giang

 
 

 


Thực hiện Công văn số 1287/BNV-TH ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Bộ Nội vụ về việc tổ chức Đoàn công tác làm việc tại tỉnh Hậu Giang. Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo kết quả chỉ đạo, thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, cụ thể như sau:

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI

1. Đặc điểm tình hình chung

Tỉnh Hậu Giang được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004, có vị trí địa lý là trung tâm tiểu vùng Tây Nam Sông Hậu, với diện tích 1.608km2, gồm có 01 thành phố, 02 thị xã và 5 huyện, 76 xã, phường, thị trấn; dân số khoảng 774.350 người, gồm 3 dân tộc chính là Kinh, Hoa, Khmer.

Sau khi chia tách, tỉnh Hậu Giang tập trung triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương về thực hiện QCDC với nhiều khó khăn, thách thức như: xuất phát điểm thấp, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với trình độ lao động thủ công là chính; cơ sở hạ tầng còn yếu kém; công nghiệp, thương mại và dịch vụ chưa phát triển; trình độ dân trí thấp; đội ngũ cán bộ phần lớn chưa bắt nhịp được với công việc do điều động từ các huyện, thị xã, thành phố về tỉnh; trụ sở làm việc và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của bộ máy còn rất khó khăn. Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân; các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá trên nhiều mặt; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện QDCD ở cơ sở.

Trước tình hình đó, cả hệ thống chính trị đặc biệt là các cơ quan nhà nước các cấp xem thực hiện tốt QCDC ở cơ sở vừa là động lực, vừa là mục tiêu để phát triển toàn diện, giữ vững quốc phòng - an ninh và xây dựng Đảng, chính quyền, nên đã nghiêm túc tổ chức triển khai và quán triệt thực hiện các văn bản của Trung ương đặc biệt là thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC.

2. Công tác quán triệt, triển khai các văn bản của Trung ương

Tổ chức hội nghị cho cán bộ chủ chốt các cấp; lồng ghép các hội nghị tập huấn của các ngành, các cấp, quán triệt các văn bản của Trung ương như: Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC cơ sở; Thông báo Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/3/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII), Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/01/2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể  chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia  góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.

Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cùng cấp tích cực tham gia việc thực hiện QCDC cơ sở; đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên thực hiện QCDC ở cơ sở; đồng thời, phối hợp, tạo điều kiện cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể tham gia giám sát hoạt động chính quyền, tổ chức tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu dân cử; các ý kiến, kiến nghị của cử tri được tổng hợp và phản ánh kịp thời đến Quốc hội, chính quyền và tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân.

Thực hiện Kết luận 120-KL/TW ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Bộ Chính trị ban hành về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 55/KH-UBND về việc thực hiện Kết luận số 120-KL/TW. Các địa phương, đơn vị cụ thể hóa Kế hoạch thành chương trình hành động, triển khai thực hiện bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt là năm 2016 và năm 2017 đã chỉ đạo kiểm tra 07 Sở, ngành cấp tỉnh, 61 lượt xã, phường, thị trấn, 40 phòng chuyên môn thuộc UBND các huyện, thị xã, thành phố, qua đó, các đơn vị, địa phương có sự chuyển biến tích cực trong việc thực hiện QCDC.

3. Công tác tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện trong cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp

Tuyên truỵền,  nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, vận động cán bộ, công chức, viên chức, và Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua, lao động sản xuất, kinh doanh góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương.

UBND tỉnh tổ chức Hội thi tuyên truyền cải cách hành chính và tìm hiểu Năm dân vận chính quyền”, QCDC ở cơ sở, qua các Hội thi đặc biệt là thi tìm hiểu về Năm dân vận chính quyền và QCDC cơ sở” có 254 bài tham gia dự thi.

Đã biên soạn tài liệu tuyên truyền hỏi đáp về thực hiện QCDC ở cơ sở hơn 450.000 bản; 98,4% cán bộ, công chức được học tập; 91,1% công nhân lao động đã được triển khai học tập QCDC ở cơ sở các loại hình doanh nghiệp.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Công tác ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện dân chủ trong cơ quan đơn vị và doanh nghiệp

Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy. UBND tỉnh đã trực tiếp và phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể ban hành chỉ đạo các địa phương đơn vị ban hành văn bản thực hiện QCDC, cụ thể: 02 Chỉ thị, 59 Kế hoạch, 111 công văn và 145 văn bản khác như: quyết định, hướng dẫn, tờ trình.... Trong đó, một số văn bản quan trọng như:

Kế hoạch số 34/KH-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2016 của UBND tỉnh thực hiện “Năm dân vận chính quyền” năm 2016;

Kế hoạch số 51/KH-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2016 của UBND tỉnh về cải cách hành chính tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020;

Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 30 tháng 6 năm 2016 của UBND tỉnh thực hiện Kết luận số 120-KL/TW ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở;

Công văn số 594/UBND-TH ngày 20 tháng 4 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;

Công văn số 633/UBND-TH ngày 27 tháng 4 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc nâng cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện đạo đức, tác phong; xây dựng lề lối làm việc khoa học, hiệu quả; công khai, dân chủ;

 Công văn số 1245/UBND-TH ngày 08 tháng 8 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc chấn chỉnh thực hiện Quy chế làm việc của UBND tỉnh.

2. Kết quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP)

 Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể triển khai thực hiện QCDC, thực hiện toàn diện các mặt công tác của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị công lập như: cải cách thủ tục hành chính; phòng chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm; công khai sử dụng ngân sách, tài sản công; nhận xét, đánh giá cán bộ, thực hiện chính sách khen thưởng, kỷ luật, tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, thực hiện nếp sống văn hóa nơi công sở... đều được xây dựng thành quy chế, quy định để triển khai thực hiện công khai dân chủ trong hoạt động của cơ quan, thông qua việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của các cơ quan đơn vị; Quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công; Quy chế xét thi đua, khen thưởng; Quy chế xét nâng lương thường xuyên, nâng lương trước thời hạn; Quy định trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã thể hiện tính công khai minh bạch, dân chủ trong hoạt động của các loại hình cơ quan trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị; luôn nêu cao dân chủ, công khai trong tất cả các mặt hoạt động của cơ quan trong lãnh đạo, quản lý, phối hợp tốt với tổ chức Công đoàn tổ chức Hội nghị CB,CC,VC đúng thời gian và nội dung theo quy định; tạo mọi điều kiện để CB,CC,VC được tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt; việc quy hoạch cán bộ nguồn, quy hoạch đào tạo đều được lấy ý kiến đóng góp của cán bộ chủ chốt, của tập thể và được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín, đảm bảo mọi quyết định đều được sự đồng thuận của CB,CC,VC trong cơ quan, đơn vị. Quan tâm công tác sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc, quy định của từng cơ quan, phù hợp với tình hình thực tế, nhất là những quy định về dân chủ trong cơ quan, đơn vị, đồng thời bãi bỏ những quy định không còn phù hợp; thực hiện tốt những việc cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân được bàn bạc, tham gia ý kiến đóng góp nhằm phát huy quyền làm chủ, quyền giám sát của cán bộ, công chức, viên chức.

 Đội ngũ CB,CC,VC thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ Nhân dân, chỉ số hài lòng của Nhân dân luôn được cải thiện, năm sau tốt hơn năm trước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện QCDC cũng còn một số hạn chế như: việc nhận thức  chưa đầy đủ về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện QCDC, vẫn còn một số cán bộ, công chức chưa phát huy tốt quyền làm chủ của mình, có nơi  còn dân chủ hình thức; chưa thực hiện tốt lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng; còn tình trạng quan liêu, gây phiền hà, sách nhiễu dân; kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ, công chức chưa được kiểm tra chặt chẽ; có những nơi, cán bộ, công chức chưa có điều kiện giám sát về kinh phí hoạt động, chế độ quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan,…

3. Kết quả thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11)

Các xã, phường, thị trấn thực hiện nghiêm Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH1, đã đa dạng các hình thức công khai với phương châm “D nghe, d nhìn, d hiểu”: Công khai bằng hình thức niêm yết, công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân các xã phường, thị trấn, bộ phận một cửa các cơ quan, đơn vị; công khai trên hệ thống truyền thanh, các phương tiện thông tin đại chúng hoặc công khai thông qua Trưởng ấp, khu vực để thông báo đến Nhân dân, hình thức công khai được Nhân dân dễ tiếp cận nhất, phát huy hiệu  quả là hình thức thông qua Trưởng ấp, khu vực, vì Trưởng ấp, khu vực do dân trực tiếp bầu, trực tiếp tiếp xúc với Nhân dân nên việc triển khai đến người dân sẽ tiếp thu nhanh và hưởng ứng tích cực hơn.

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt việc tổ chức đối thoại trực tiếp với Nhân dân theo định kỳ, trực tiếp giải quyết những khiếu nại, tố cáo của công dân. Từng bước hạn chế tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài. Kịp thời chỉ đạo việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, quy ước của ấp, khu vực, tổ dân phố…

 Các cấp ủy đảng, chính quyền đã tổ chức tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân trên địa bàn tỉnh, các cấp tổ chức nhiều cuộc đối thoại trực với Nhân dân, được các tầng lớp nhân nhân đồng tình, năm 2017 tỉnh tổ chức 02 cuộc tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp và xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ có trên 1.100 đại biểu tham dự với 1.861 ý kiến đóng góp của nhân dân được ghi nhận, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng được công nhận trong sạch vững mạnh.

Nhìn chung các xã phường, thị trấn trong tỉnh đã thực hiện tốt Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 góp phần tác động rất lớn đến việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh; đặc biệt là việc củng cố xây dựng hệ thống chính trị tại cơ sở từng bước vững mạnh, tạo được lòng tin của Nhân dân đối với chính quyền các cấp, Nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động của địa phương, đặc biệt là tích cực tham gia hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới; phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng; tham gia đóng góp vào các loại quỹ an sinh xã hội. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương. Đời sống người dân ngày càng được nâng lên, phát huy tối đa mọi nguồn lực trong Nhân dân, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, thực hiện tốt QCDC đã tác động tích cực đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. cụ thể đã công nhận và tái công nhận 96,63% hộ gia đình văn hóa, 96,50% khu dân cư văn hóa, 77,32% xã, phường, thị trấn văn hóa; công tác xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở được quan tâm, hiện nay 76/76 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bằng nhiều hình thức như đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giải quyết việc làm, các chính sách giảm nghèo được thực hiện,… Qua đó góp phần giảm hộ nghèo từ 13,62% (năm 2004) xuống còn 9,98% cuối năm 2017. Các chính sách an sinh xã hội khác như chăm sóc người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, các đối tượng hộ nghèo, đồng bào dân tộc,… được sự quan tâm của toàn xã hội. Các công trình trọng điểm được thực hiện theo kế hoạch, ngoài các công trình Trung ương đầu tư trên địa bàn như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 61, cầu Cái Tư, tuyến lộ Bốn Tổng - Một Ngàn, tuyến lộ Quản lộ - Phụng Hiệp, đường nối Thị xã Vị Thanh - Thành phố Cần Thơ, nạo vét 2 tuyến đường thủy mang tầm chiến lược là kênh Nàng Mau 2, dự án Ô Môn - Xà No…Tỉnh đã tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo các tuyến đường tỉnh, huyện, hệ thống đường nội ô thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, các thị trấn, để nâng cao hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Một số đường tỉnh mới hình thành, xây dựng bờ kè kênh Xáng Xà No để chống sạt lỡ đất và tạo mỹ quan đô thị. Các công trình trọng điểm như: Bệnh viện Đa khoa 500 giường, bệnh viện huyện, thị, thành phố, nhà thi đấu đa năng, Trường Đại học Võ Trường Toản, Cao đẳng cộng đồng, Dân tộc nội trú, Trường dạy nghề, Trường trung cấp Luật đã hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh, ngăn chặn kịp thời các vụ việc vi phạm pháp luật, các tệ nạn xã hội, giữ gìn sự bình yên cho nhân dân.

4. Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc (theo Nghị định 60/2013/NĐ-CP)

Các doanh nghiệp, các công ty đã tổ chức quán triệt Nghị định số Nghị định số 60/2013/NĐ của Chính phủ sâu rộng trong tổ chức đảng, Ban Giám đốc, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, cán bộ quản lý, phát huy quyền làm chủ của công nhân lao động. Có nhiều nơi đã phát huy hiệu quả vai trò của Ban Thanh tra nhân dân, tổ chức Công đoàn trong xây dựng nội quy, quy chế doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động. Thực hiện “ký kết hợp đồng trách nhiệm giữa Giám đốc và Chủ tịch Công đoàn” trong việc thực hiện nhiệm vụ doanh nghiệp, công ty đã tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của công nhân, lao động, nội dung thỏa ước lao động gồm cam kết về việc làm và bảo đảm việc làm, thời gian nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương, định mức kinh tế - kỹ thuật, an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội,… được công khai dân chủ, có sự tham gia đóng góp ý kiến của người lao động.

Hàng năm, Ban Giám đốc các công ty, doanh nghiệp phối hợp với chi, đảng bộ, với công đoàn tổ chức Hội nghị người lao động, ký thỏa ước lao động tập thể theo đúng quy định của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện QCDC có tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo công ty, doanh nghiệp với công nhân, viên chức, người lao động; tổ chức lấy phiếu thăm dò tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp, công ty,... Các ý kiến đóng góp của người lao động được các công ty, doanh nghiệp tiếp thu và giải quyết kịp thời, vai trò và vị thế của người lao động từng bước được nâng lên. Qua đó, Ban giám đốc cũng lồng ghép triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến người lao động.

Nhìn chung việc thực hiện QCDC ở doanh nghiệp, công ty đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của lãnh đạo công ty, doanh nghiệp, từ đó nhiều công ty, doanh nghiệp đã tạo điều kiện công nhân phát huy quyền và nghĩa vụ của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty, doanh nghiệp; chung tay cùng Ban Giám đốc công ty, doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, góp phần đảm bảo thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động.

Tuy nhiên, hoạt động của Công đoàn cơ sở, của Ban Thanh tra nhân dân trong doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, có nơi chỉ làm mang tính hình thức; công khai tài chính các khoản thu, chi không chi tiết nên công nhân, người lao động chưa được biết rõ. Ban Thanh tra nhân dân có thành lập nhưng hoạt động cầm chừng, không mạnh dạn đấu tranh, ngại đụng chạm, có nơi không hoạt động. Đặc biệt có đơn vị đã xây dựng được quy chế nhưng không bám vào quy chế để hoạt động, một số công ty, doanh nghiệp chưa tổ chức Hội nghị người lao động đúng theo quy định hoặc có tổ chức thì còn nặng về hình thức; một số lao động chưa mạnh dạn tham gia đóng góp ý kiến. Vẫn còn nhiều công ty chưa có tổ chức công đoàn. Nguyên nhân chính là do các cấp chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan chưa phân cấp quản lý rõ ràng việc triển khai, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đôn đốc nên trong thực hiện còn nhiều hạn chế.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Thuận lợi

Các chủ trương, chính sách phát triển sản xuất và chăm lo đời sống Nhân dân của Trung ương và địa phương gắn chặt với việc thực hiện QCDC ở cơ sở đã tạo ra sự phấn khởi, tin tưởng trong các tầng lớp Nhân dân. Các cấp ủy đảng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo tổ chức, triển khai các chỉ thị, nghị định của Chính phủ về thực hiện việc xây dựng và thực hiện QCDC ở các loại hình; kịp thời kiện toàn BCĐ thực hiện QCDC các cấp, đồng thời tổ chức kiểm tra, sơ, tổng kết kịp thời. Chính quyền các cấp kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đúng đắn, hợp lòng dân, hệ thống chính sách, pháp luật của các cơ quan Đảng, Nhà nước tiếp tục được rà soát, bổ sung, hoàn thiện. Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp tích cực tuyên truyền, vận động Nhân dân xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.

2. Khó khăn

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, xã hội tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Trong hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, bất lợi như: chi phí đầu vào tăng, thị trường thu hẹp, sức mua giảm, tồn kho lớn,… một số doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, có doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, dẫn đến công nhân thiếu việc làm, giảm thu nhập. Trong nông nghiệp giá cả các mặt hàng nông sản, thực phẩm liên tục bị mất giá, giá vật tư nông nghiệp, thức ăn gia súc, gia cầm tăng; dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi diễn biến phức tạp,… Tình hình trên ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống các tầng lớp Nhân dân và việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở. Một số cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Vai trò trách nhiệm của người đứng đầu ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa được phát huy, thiếu sự quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện, chưa tập trung chỉ đạo, giải quyết tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc kịp thời ở những cơ sở yếu kém. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân còn chậm; cán bộ, công chức làm công tác tuyên truyền ở cơ sở còn hạn chế về chuyên môn; trình độ dân trí ở nông thôn thấp, một bộ phận người dân chưa quan tâm đến hoạt động của địa phương, chỉ quan tâm đến những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, hạn chế về năng lực công tác, thiếu gương mẫu, một số cán bộ, công chức vi phạm quyền làm chủ của nhân dân gây ra những bất bình trong nhân dân.

3. Bài học kinh nghiệm

- Xác định việc thực hiện QCDC ở cơ sở là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là sự gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu; trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện QCDC.

- Phát huy vai trò của hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể gắn với chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở có nhận thức về chính trị, am hiểu về pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ.

- Nơi nào phát huy hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo và Bộ phận Giúp việc thì nơi đó thực hiện tốt QCDC ở cơ sở.

- Phát huy tốt công tác phối hợp tuyên truyền, kiểm tra, giám sát thường xuyên chỉ đạo tổ chức sơ, tổng kết đánh giá kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm.

- Để việc xây dựng và thực hiện QCDC đạt kết quả, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và tạo điều kiện cho Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát nhằm chấn chỉnh, uốn nắn, khắc phục kịp thời những hạn chế, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện.

IV. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

1. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xem xét, nghiên cứu xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở, có chế tài trong việc thực hiện dân chủ để tránh các trường hợp lợi dụng QCDC không chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của địa phương.

2. Đề nghị Chính phủ: Sớm sơ kết việc triển khai thực hiện Nghị định số 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ để đánh giá toàn diện những kết quả đạt được, những hạn chế, khuyết điểm. Từ đó, làm kinh nghiệm để chỉ đạo thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

Trên đây là Báo cáo kết quả thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hậu Giang./.

 

Nơi nhận:

- Đoàn Công tác;

- TT: TU, HĐND, UBND tỉnh;

- Sở Nội vụ;

- Lưu: VT, TH, HG

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

      Đồng Văn Thanh