</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 41/BC-UBND Hậu Giang, ngày 30 tháng 3 năm 2018

BÁO CÁO

Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2010 - 2017 trên địa bàn tỉnh

 
 
 


Thực hiện Công văn số 446/HĐDT14 ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng Dân tộc về việc chuẩn bị báo cáo với Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2010 - 2017 trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:

Phần I

KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Điều kiện tự nhiên:

Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, với diện tích tự nhiên là 1.601,14 km2, chiếm khoảng 4% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông giáp tỉnh Sóc Trăng, nằm ở cuối đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, độ cao trung bình dưới 2 mét so với mực nước biển; là tỉnh thuần nông, đất trũng, thường xuyên nhiễm mặn nhất là mùa nắng, hệ thống sông rạch chằng chịt, giao thông đi lại khó khăn. Toàn tỉnh có 5 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố, có 76 xã, phường, thị trấn, 539 ấp, khu vực.

2. Tình hình kinh tế - xã hội:

a) Khái quát tình hình kinh tế - xã hội :

- Về lĩnh vực nông nghiệp:

  + Sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang phát triển khá toàn diện, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch dần theo hướng tích cực, giá trị tăng thêm đạt bình quân 3,8%/năm; trong cơ cấu giá trị sản xuất khu vực I, tỷ trọng ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản là 85% - 0,5% - 14,5%, trong những năm gần đây, thủy sản có xu hướng tăng dần; nông sản hàng hóa khá đa dạng, một số mặt hàng nông sản bước đầu hình thành mối liên kết 04 nhà; công tác ứng dụng khoa học công nghệ đã phát huy hiệu quả; khống chế nhanh dịch bệnh; tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng.

+ Kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại đến nay có 134 Hợp tác xã nông nghiệp  và 01 Liên hiệp Hợp tác xã nông nghiệp, 22 trang trại (11 chăn nuôi, 03 thủy sản, 08 trang trại tổng hợp); đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 21 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 38,8% tổng số xã).

- Về lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:

+ Toàn tỉnh có 4.200 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động; có 02 khu công nghiệp và 08 cụm công nghiệp tập trung, với diện tích là 1.529,17 ha.

+ Ngành xây dựng đã có những bước tiến đáng kể trong xây dựng công trình, kiến trúc và quy hoạch, phát triển đô thị và nhà ở, năng lực xây dựng công trình có tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng, giá trị gia tăng bình quân đạt 9,4%/năm; công tác quản lý quy hoạch xây dựng được chấn chỉnh, từng bước đi vào nề nếp, công tác quản lý nhà ở được quan tâm.

- Về dân số - lao động:

+ Dân số chung của tỉnh Hậu Giang là 199.576 hộ, với 774.070 người; trong đó, khu vực thành thị có 572.365 người, khu vực nông thôn có 201.705 người, tổng số hộ nghèo 19.228 hộ, chiếm tỷ lệ 9,63%, tổng số hộ cận nghèo 11.862 hộ, chiếm tỷ lệ 5,94%, thu nhập bình quân đầu người đạt 33,84 triệu đồng/người, tương đương 1.509 USD.

+ Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề trên địa bàn tỉnh được mở rộng, nhiều chương trình, dự án về đào tạo nghề được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng; cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản; trình độ học vấn, ngành nghề, trình độ đào tạo của tỉnh Hậu Giang đạt mức trung bình của vùng, tập quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Hậu Giang được tích lũy qua nhiều thế hệ, nhất là kỹ năng lao động nghề chăn nuôi, trồng lúa…

- Về Dân tộc:

Tỉnh Hậu Giang có 8.130 hộ đồng bào DTTS, với trên 33.000 người, trong đó, đồng bào dân tộc Khmer với 24.589 người, dân tộc Hoa với 8.309 người, còn lại là DTTS khác với khoảng 305 người; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số là 23,55%, hệ thống chính trị vùng có đông đồng bào DTTS từng bước được củng cố kiện toàn; an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, liên tục tăng trưởng; thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm, đời sống đồng bào dân tộc, vùng đồng bào dân tộc được nâng lên; các hoạt động lễ, hội truyền thống được duy trì; từ đó, đã tạo được sự đồng thuận cao, củng cố thêm lòng tin của đồng bào các DTTS vào đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, giúp cho đồng bào an tâm hơn và tập trung vào việc đầu tư phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh để cải thiện cuộc sống và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

- Về Tôn giáo:

+ Tỉnh Hậu Giang có 6 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam; tính đến đầu năm 2017, tỉnh Hậu Giang có 193.380 tín đồ, chiếm 25% so với dân số; 413 chức sắc; 424 chức việc; có tổng số 30 tổ chức tôn giáo cơ sở; 164 cơ sở thờ tự.

+ Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, phù hợp với thực tế tại địa phương; tạo được sự đồng thuận của đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo; từ đó, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết trong đồng bào các tôn giáo, huy động được sự đóng góp của tổ chức tôn giáo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

- Y tế:

+ Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Nhân dân những năm gần đây có bước phát triển tích cực; cơ sở vật chất phục vụ công tác khám, chữa bệnh được các cấp quan tâm đầu tư, nâng cấp và mở rộng; việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng người DTTS sinh sống tại vùng khó khăn được các cấp, các ngành quán triệt một cách nghiêm túc, số người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng tăng.

+ Trên địa bàn tỉnh có 76/76 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã 100%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 12,6%; số bác sĩ trên vạn dân là 6,8% bác sĩ; số giường bệnh trên vạn dân là 28,81 giường; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 78,87%, tuổi thọ trung bình 75 tuổi; đây là kết quả sau hơn 5 năm Tỉnh triển khai Đề án thực hiện tiêu chí quốc gia về y tế xã của tỉnh Hậu Giang, giai đoạn 2011 - 2020.

b) Khái quát chung tình hình phát triển giáo dục của tỉnh giai đoạn 2010 -2017:

- Công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm, hỗ trợ; trường, lớp học được đầu tư, xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và học; đến nay, 100% xã có trường mẫu giáo; công tác huy động học sinh các cấp năm học 2017 - 2018 vượt chỉ tiêu Nghị quyết, tỷ lệ huy động học sinh đến trường năm sau cao hơn năm trước.

- Tỉnh có 76/76 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 50,4%; thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với giáo viên, học sinh trường dân tộc nội trú, chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, học sinh DTTS.

 

- Về quy mô trường, lớp, học sinh:

+ Trường: 340 trường, trong đó: mầm non: 85 trường, tiểu học: 170 trường, THCS: 62 trường, THPT: 23 trường; trong đó có 01 trường Dân tộc nội trú THCS và 01 trường Dân tộc nội trú THPT (năm học 2010 - 2011 số trường là 330, trong đó: mầm non: 78 trường, tiểu học: 171 trường, THCS: 59 trường, THPT: 23 trường).

+ Lớp: 5.279 lớp, trong đó: mầm non: 1.026 lớp, tiểu học: 2.591 lớp, THCS: 1.205 lớp, THPT: 457 lớp, (năm học 2010 - 2011 tổng số lớp là 5.060, trong đó: mầm non: 958 lớp, tiểu học: 2.613 lớp, THCS: 1.058 lớp, THPT: 431 lớp).

+ Học sinh: 158.409 em, trong đó: mầm non: 32.474 em, tiểu học: 67.030 em, THCS: 42.087 em, THPT: 16.818 em (năm học 2010 - 2011 tổng số học sinh là 143.671 em, trong đó, mầm non: 25.612 em, tiểu học: 67.097 em, THCS: 35.944 em, THPT: 15.018 em).

- Nhìn chung, mạng lưới trường mầm non, tiểu học, THCS đã phủ kín các , phường, thị trấn, mỗi huyện, thị, thành phố đều có từ 2 đến 4 trường THPT; các trường được bố trí với cự ly vừa phải, hợp lý đã tạo điều kiện khá thuận lợi để học sinh các cấp theo học.

- Tỷ lệ huy động học sinh các ngành học, cấp học đạt so với kế hoạch. 

- Chất lượng giáo dục của các ngành học, cấp học tiếp tục được củng cố và có bước phát triển; nhiều hoạt động chuyên môn, trải nghiệm sáng tạo hướng nhiều đến lợi ích học sinh; các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được ngành chỉ đạo triển khai tốt và đi vào nề nếp; hoạt động của Hội đồng bộ môn các cấp có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học.

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học của các ngành học, cấp học tiếp tục được tăng cường; công tác thư viện, thiết bị trường học được quan tâm thúc đẩy và có nhiều tiến bộ; tình hình quản lý, sử dụng, bảo quản thiết bị dạy học đã có sự chuyển biến rõ nét.

- Việc bố trí, sử dụng cán bộ, giáo viên, nhân viên đảm bảo theo quy định, theo chuyên môn đào tạo, phù hợp với điều kiện của ngành và đơn vị.

- Công tác kiểm định chất lượng giáo dục được ngành tổ chức triển khai khá tốt, đúng theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, bước đầu đã đạt được một số kết quả khả quan.

- Công tác thanh, kiểm tra được ngành quan tâm đẩy mạnh đã giúp nhà trường, giáo viên khắc phục các mặt hạn chế, thiếu sót trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; công tác kiểm tra của các trường và thanh tra của Sở, Phòng về chuyên môn được thực hiện thường xuyên.

- Các cuộc vận động do Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT phát động đã được các đơn vị hưởng ứng, tham gia tích cực, xuất hiện nhiều mô hình hay, sáng tạo, có hiệu quả; nhiều hoạt động phong phú và đa dạng được tổ chức thực hiện và ngày càng đi vào nề nếp, có chiều sâu góp phần thực hiện tốt công tác giáo dục toàn diện cho học sinh.

- Công tác phối hợp hoạt động giữa ngành GD&ĐT và Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức các cấp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, có tác dụng tích cực trong việc huy động các nguồn lực của xã hội cùng chung lo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà.

Phần II

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH,
PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ GIAI ĐOẠN 2010 - 2017

I. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số:

Các đơn vị trường học tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật như: Luật Giáo dục, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục; các văn bản của Chính phủ, bộ ngành bằng nhiều hình thức như thông qua họp Hội đồng trường, các buổi sinh hoạt chuyên đề, phối hợp với địa phương trong tuyên truyền, tham gia các cuộc thi tìm hiểu pháp luật do các ngành liên quan tổ chức; xây dựng đội ngũ báo cáo viên; tích hợp trong một số môn học như Giáo dục công dân, Đạo đức và các buổi sinh hoạt ngoại khóa.

Trong những năm qua, với các chương trình, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, ngành GD&ĐT tiếp tục đầu kinh phí thực hiện như: Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển giáo dục dân tộc, miền núi, vùng sâu …; ngoài chính sách đầu tư mang tính chất đặc thù dành cho các địa bàn khó khăn, các địa bàn vùng dân tộc cũng được nhà nước đầu tư kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học; đến nay cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động của các trường vùng dân tộc đã được cải thiện đáng kể (không còn trường học, phòng học tạm bợ), đáp ứng khá tốt yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học ở địa phương.

Hầu hết các trường dân tộc nội trú và những trường có đông học sinh người dân tộc thiểu số theo học đã thực hiện tốt các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; học sinh dân tộc được rèn luyện nhiều kỹ năng để vận dụng vào cuộc sống; các trường đã tổ chức nhiều phong trào hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cho học sinh tham gia thi đấu và phục vụ khi có nhu cầu; tình đoàn kết giữa các em học sinh dân tộc Khmer và các em học sinh dân tộc Kinh, Hoa được thể hiện rất tốt, các em quan tâm hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập; thầy cô quan tâm và động viên các em về mọi mặt, tạo cho các em sự thân thiện và gần gũi với nhà trường.

II. Tổ chức, triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục vùng DTTS

1. Về chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển giáo dục vùng DTTS:

a) Chính sách của Trung ương:

- Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011 - 2015Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày 21 tháng 9 năm 20111 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011 - 2015 là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục cho vùng đồng bào dân tộc nhằm tạo nguồn cán bộ người dân tộc phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở địa phương nên luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các sở, ban ngành liên quan ở địa phương hết sức quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ thực hiện tốt trong thời gian qua.

- Để giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, chữ viết cho đồng bào dân tộc,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư liên tịch số 50/2011/TTLT - BGDĐT - BNV - BTC, ngày 03 tháng 11 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các Điều 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.

Nhằm đảm bảo chất lượng đầu vào, chính sách ưu tiên đối với học sinh
dân tộc ở các vùng đặc biệt khó khăn cần nguồn đào tạo cán bộ tại địa phương, công tác tuyển sinh được thực hiện đồng bộ; Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 49/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 8 năm 2008 về quy chế
tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú,
Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2016 về Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú thay thế Quyết định 49/2008/QĐ-BGDĐT.

b) Chính sách của địa phương:

- Thực hiện Quyết định số 1640/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh đã xây dựng Đề án củng cố và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, trong đó, tập trung phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú tại những vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống. Qua 05 năm triển khai thực hiện Đề án, toàn tỉnh đã xây dựng mới và đưa vào sử dụng 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, với tổng kinh phí hơn 100 tỷ đồng.

- Thực hiện Nghị định số 82/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Tỉnh đã ban hành Quyết định số 1991/QĐ-CTUBND ngày 05 tháng 10 năm 2012 về việc dạy tiếng Khmer trên địa bàn tỉnh.

- Bên cạnh đó, Tỉnh cũng ban hành một số văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật về hỗ trợ phát triển giáo dục vùng DTTS.

  2. Chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với người học:

  a) Chính sách của Trung ương:

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên người DTTS, tạo điều kiện để các em được cắp sách đến trường từ mầm non đến trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, đại học và trở thành người cán bộ dân tộc ưu tú tương lai trong sự nghiệp phát triển của đất nước nói chung và của vùng dân tộc nói riêng được minh chứng qua các chính sách đã ban hành: Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chế độ miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, cơ chế thu và sử dụng đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015; Thông tư liên tịch số 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP; Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP; Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

b) Chính sách của địa phương:

- Tỉnh đã triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số 49/2010/NĐ-CP và Thông tư Liên tịch số 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH theo các văn bản hướng dẫn của Trung ương.

- Thực hiện Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về cấp tạp chí cho đối tượng vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, hàng năm, tỉnh Hậu Giang có gần 70 điểm trường được cấp các loại tạp chí miễn phí dành cho các trường thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và vùng đồng bào dân tộc để phục vụ cho các em học sinh.

- Thực hiện Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Tỉnh đã hỗ trợ lương thực cho 7 học sinh bán trú người dân tộc thiểu số (từ năm 2013 đến năm 2017, với 115.965 kg).

- Việc cấp kinh phí theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29 tháng 5 năm 2009 của Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc, Tỉnh đã cấp cho 2 trường phổ thông dân tộc nội trú từ năm 2010 đến 2015 với số tiền là: 78.923.818.000 đồng, cụ thể như sau:

+ Năm 2010: 3.345.472.000 đồng;

+ Năm 2011: 6.974.635.000 đồng;

+ Năm 2012: 15.952.741.000 đồng;

+ Năm 2013: 15.996.532.000 đồng;

+ Năm 2014: 18.464.421.000 đồng;

+ Năm 2015: 18.190.017.000 đồng.

- Đối với người học là người dân tộc thiểu số học tiếng dân tộc thiểu số tại các cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên được Nhà nước đảm bảo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, vở viết phục vụ việc học tiếng dân tộc thiểu số; định mức chi hỗ trợ đối với người học tiếng Khmer trên địa bàn tỉnh,  cụ thể như sau:

+ Cấp Tiểu học: chi hỗ trợ sách giáo khoa 01 bộ/học sinh/năm; sách bài tập 01 quyển/học sinh/năm; tập học 04 quyển/học sinh/năm; tập viết 01 quyển/học sinh/năm; viết 04 cây/học sinh/năm.

+ Cấp trung học sơ sở: chi hỗ trợ sách giáo khoa 01 bộ/học sinh/năm;
sách bài tập 01 quyển/học sinh/năm; tập học 04 quyển/học sinh/năm; viết 04 cây/học sinh/năm.

- Bên cạnh đó, Tỉnh cấp kinh phí cho các đơn vị trường phổ thông dân tộc nội trú thực hiện kịp thời chính sách hỗ trợ học sinh như: chế độ học bổng, mua bảo hiểm y tế, trang cấp hiện vật, chế độ khen thưởng cuối năm học, tiền tàu xe đối với học sinh tạo điều kiện cho các em vui Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc...

3. Chính sách cử tuyển:

- Thực hiện Nghị định số 134/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trong những năm qua, công tác cử tuyển của tỉnh luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, đặc biệt chú trọng đến chất lượng bằng cách xây dựng kế hoạch tuyển chọn những học sinh ưu tú, đúng đối tượng, quyết định cử đi học; song song đó, Tỉnh đã ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo công tác cử tuyển học sinh, sinh viên, trong đó, phân công Sở Giáo dục và Đào tạo hàng năm gửi hồ sơ, danh sách sinh viên được xét duyệt theo học chế độ cử tuyển đến các trường đại học, ký hợp đồng đào tạo, theo dõi kết quả học tập sinh viên các khóa học, thanh toán kinh phí đào tạo, cấp học bổng, sinh hoạt phí đúng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2008/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC-BNV-UBDT, Thông tư liên tịch số 23/2008/TTLT/BGDĐT-BLĐTBXH-BTC; nhìn chung,
kết quả học tập của các em tại các trường Đại học khá tốt, đảm bảo đủ năng lực, kiến thức theo học đúng chuyên ngành đăng ký và là nguồn lực chất lượng cao để bổ sung cán bộ công tác tại các vùng có đông đồng bào dân tộc; kết quả, từ năm
2010 đến năm 2013 xét cử tuyển được 74 học sinh dân tộc theo học các lớp Đại học, Cao đẳng; tuy nhiên, hàng năm, vẫn còn một số sinh viên học cử tuyển không đủ năng lực theo học tiếp, trường Đại học đã trả về địa phương, đặc biệt là ngành Y, Dược học tại trường Đại học Y dược TPHCM (mỗi năm có khoảng 03 em phải đăng ký học lại do không đủ điểm chuẩn theo quy định); số tiền cấp cho học sinh cử tuyển từ năm 2010 đến 2015: 7.900.837.000 đồng, cụ thể:

+ Năm 2010: 1.082.090.000đồng;

+ Năm 2011: 1.238.487.000đồng;

+ Năm 2012: 1.446.944.000đồng;

+ Năm 2013: 1.463.426.000đồng;

+ Năm 2014: 1.431.265. 000đồng;

+ Năm 2015: 1.238.625.000đồng.

- Tiếp nhận, phân công, bố trí sử dụng sinh viên cử tuyển: hàng năm, sau khi có kết quả thi tốt nghiệp đại học, cao đẳng, các cơ sở giáo dục đã gửi thông báo danh sách sinh viên tốt nghiệp đến Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở cử cán bộ trực tiếp nhận bằng tốt nghiệp cho sinh viên; đồng thời, phối hợp với Sở Nội vụ có kế hoạch phân công công tác cho sinh viên đã tốt nghiệp ra trường; từ năm 2010 đến nay, bố trí việc làm cho sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường được 38/74 sinh viên, đạt tỷ lệ 51,35%; số sinh viên sau khi tốt nghiệp đều được phân công dựa trên cơ sở kế hoạch phân công và bản đăng ký chỉ tiêu của các đơn vị huyện, thị xã, thành phố; tuy nhiên, trong thời gian qua số lượng sinh viên hệ cử tuyển tốt nghiệp chưa được bố trí, sử dụng vẫn còn khá cao 36/74 sinh viên, tỷ lệ 48,64%.

- Qua khảo sát nhu cầu cử tuyển từ năm 2016 đến nay và theo thông tin phản hồi của UBND huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị này không có nhu cầu cử tuyển, do đó, UBND tỉnh Hậu Giang thống nhất không đề xuất chỉ tiêu cử tuyển.

4. Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn:

a) Chính sách của Trung ương:

Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú là loại hình trường chuyên biệt vừa tổ chức các hoạt động giảng dạy, vừa tổ chức các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng học sinh, trong đó, công tác đội ngũ là khâu then chốt, phải lựa chọn đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ nhà giáo có đủ đức, tài, am hiểu về văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc, thạo kỹ năng giao tiếp bằng tiếng dân tộc; nhằm động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ nhà giáo gắn bó với trường, học sinh, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương đã ban hành các chính sách hỗ trợ như: Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Nghị định số 116/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 27 tháng 03 năm 2007của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 61/2006/NĐ-CP; Thông tư số 59/2008/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp giáo dục ở các trường chuyên biệt công lập.

b) Chính sách của địa phương:

Các chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ nhà giáo trong hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú được Tỉnh triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng đối tượng thụ hưởng.

5. Chính sách dạy và học tiếng nói, chữ viết DTTS:

a) Đối với người dạy:

- Giáo viên (không phân biệt biên chế hay hợp đồng, kiêm nhiệm) dạy tiếng dân tộc thiểu số đảm bảo số giờ dạy theo định mức, trong đó, có số tiết dạy tiếng dân tộc thiểu số 04 tiết/tuần trở lên đối với giáo viên; từ 02 tiết/tuần trở lên đối với Hiệu trưởng và tương đương được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung ngoài chế độ phụ cấp khác theo quy định; không áp dụng chế độ phụ cấp này đối với những giáo viên đã được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 61/2006/NĐ-CP của Chính phủ; chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; trường hợp giáo viên có số tiết dạy vượt định mức quy định tại Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009 về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông thì số giờ dạy thêm được thanh toán theo quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2008/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 09 tháng 09 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập, nhưng không quá 200 giờ tiêu chuẩn/năm.

- Thủ trưởng các cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ dạy tiếng dân tộc thiểu số căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 50/2008/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC, bố trí giáo viên giảng dạy tiếng dân tộc thiểu số bảo đảm đủ định mức theo quy định, hạn chế việc bố trí giáo viên dạy thêm giờ.

b) Đối với người học:

Đối với người học là người DTTS học tiếng DTTS tại các cơ sở giáo dục phổ thông, được Nhà nước đảm bảo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, vở, viết phục vụ việc học tiếng DTTS.

6. Một số chính sách của địa phương:

Ngoài việc thực hiện tốt các chính sách do Trung ương quy định đối với học sinh, sinh viên dân tộc, Tỉnh còn hỗ trợ học sinh, sinh viên dân tộc trong việc mua bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn con người; các tổ chức xã hội, đoàn thể, tiêu biểu là Hội Khuyến học hỗ trợ quà, tập sách, xe đạp…, tạo điều kin tối đa cho học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn được đến trường; duy trì việc dạy tiếng dân tộc đối với nơi có nhiều học sinh DTTS, đồng thời, thực hiện dạy song ngữ Khmer, góp phần giảm tình trạng bỏ học đối với con em vùng dân tộc thiểu số, duy trì tiếng mẹ đẻ…

Phần III

NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

I. Những ưu điểm, kết quả đạt được:

1. Về thể chế hóa chính sách, pháp luật:

- Những chính sách, thể chế pháp luật của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương về chế độ chính sách đối với vùng DTTS đã khẳng định nguyên tắc nhất quán của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc và chính sách dân tộc là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, tạo được lòng tin của đồng bào các DTTS đối với Đảng và Nhà nước; góp phần cho nhiều con em đồng bào DTTS có điều kiện học hành và trở thành những cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn ở các ngành, các cấp của Tỉnh; nâng cao trình độ dân trí ở vùng đồng bào DTTS.

- Chế độ ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú phần nào đã kích thích, thu hút được đội ngũ nhà giáo có tay nghề, có tâm huyết về trường phổ thông dân tộc nội trú công tác.

2. Công tác triển khai tổ chức thực hiện của địa phương:

Thông qua các thể chế về chính sách của Đảng và Nhà nước, Tỉnh đã phát huy được sự chủ động trong việc triển khai nhiều chương trình, đề án phát triển giáo dục vùng DTTS.

 

3. Về tác động, hiệu quả việc thực hiện chính sách đối với sự nghiệp phát triển giáo dục vùng DTTS:

a) Đối với ngành học mầm non:

- Hậu Giang đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi từ năm 2016, cùng với các chính sách chung của ngành, các trường mầm non mẫu giáo ở các vùng DTTS đã có nhiều thuận lợi về cơ sở vật chất, các phòng học tạm mượn đã được thay thế, công tác đầu tư mua sắm, bổ sung đồ dùng, đồ chơi, thiết bị tối thiểu theo Thông tư số 02/2010/TTBGDĐT, Thông tư số 34/2013/TT-BGDĐT được ưu tiên cho các vùng có học sinh dân tộc.

- Các trường mẫu giáo, mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ đã thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động thể chất nhằm nâng cao chất lượng phát triển vận động cho trẻ trong các cơ sở giáo dục; thực hiện hiệu quả kế hoạch “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 - 2020, tăng cường hoạt động vui chơi và các hoạt động trải nghiệm, khám phá của trẻ; chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm nom ở các vùng khó khăn…

- Có nhiều giải pháp quản lý chặt chẽ và hiệu quả hoạt động của các trường, lớp, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập; công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, bảo mẫu được ưu tiên cho các trường có học sinh dân tộc; quy mô và chất lượng đáp ứng được yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ; trong nhiều năm qua chưa để xảy ra ngộ độc thực phẩm, tai nạn thương tích cũng như tình trạng ngược đãi, bạo hành trẻ.

b) Đối với giáo dục phổ thông:

Mạng lưới trường, lớp; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được sắp xếp ổn định; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được đầu tư, bổ sung hàng năm; đối với tiểu học, số học sinh dân tộc ra lớp và học xong chương trình tiểu học đạt tỷ lệ gần bằng với các em học sinh người Kinh, giảm dần tỉ lệ bỏ học cao đối với các em học sinh dân tộc, số học sinh dân tộc được học 02 buổi/ ngày tăng hàng năm, các trường tiểu học thuộc vùng đồng bào dân tộc còn được ưu tiên đầu tư trang bị máy vi tính và tổ chức dạy học môn tin học có hiệu quả.

III. Những tồn tại, hạn chế:

- Đối với các trường phổ thông dân tộc nội trú: chưa có điều kiện tổ chức đưa, rước học sinh hàng tháng về thăm gia đình.

- Trang phục đồ dùng cá nhân như: quần, áo, chăn, màn, chiếu, áo đi mưa… chỉ được cấp 01 lần trong suốt thời gian học ở trường.

 

- Mức học bổng của học sinh bằng 80% mức lương tối thiểu, hiện nay là 968.000đ/tháng, với số tiền này chưa đủ để các em đóng tiền ăn trong 01 tháng (tiền ăn mỗi tháng là 36.000 đ x 30 ngày = 1.080.000đ).

- Cơ sở vật chất của các trường phổ thông dân tộc nội trú đang còn trong giai đoạn cải tạo hoặc xây dựng mới nên một số hoạt động ngoài giờ còn hạn chế.

- Chưa có điều kiện về kinh phí để tham gia giao lưu với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú trong khu vực cũng như trên toàn quốc.

- Về đội ngũ giáo viên: chưa có nhiều giáo viên giỏi nên việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, còn gặp khó khăn nhất định, còn thấp về chất lượng.

Phần IV

KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1. Đối với Quốc hội:

Trong các Điều khoản của Luật Giáo dục, cần quan tâm nhiều hơn đến đội ngũ làm công tác quản lý tại các đơn vị liên quan đến vùng DTTS.

2. Đối với Chính phủ và các bộ, ngành:

- Cần có quy định về chế độ cấp trang phục, đồng phục thể dục và đồ dùng cá nhân mỗi năm học.

- Có chính sách ưu đãi đối với đội ngũ quản lý nhân viên công tác ở trường dân tộc nội trú các cấp.

- Hỗ trợ kinh phí hoặc cho chủ trương để các trường phổ thông dân tộc nội trú sử dụng nguồn quỹ 5% học bổng hàng năm phục vụ cho học sinh tham gia giao lưu với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú trong khu vực và toàn quốc.

- Cho phép cán bộ quản lý, giáo viên của hệ thống trường dân tộc nội trú được quy đổi chứng chỉ tiếng dân tộc thay cho chứng chỉ ngoại ngữ khung 6 bậc như hiện nay trong việc phân hạng chức danh nghề nghiệp.

- Giao cho Tỉnh chủ động trong việc đầu tư cơ sở vật chất, tài liệu trong công tác giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

- Theo Thông tư số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT quy định chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và trường Dự bị đại học
dân tộc có quy định:

+ Trang cấp hiện vật một lần đồ dùng cá nhân khi học sinh nhập trường gồm các loại: quần, áo dài tay (đồng phục), chăn, màn, chiếu, áo đi mưa, áo bông; như vậy, cả cấp học (3 năm) học sinh chỉ được cấp 1 lần nên chưa đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên, đề nghị nên cấp mỗi năm 1 lần các đồ dùng này và trang bị thêm 1 bộ đồ đồng phục thể dục.

+ Mức học bổng của học sinh bằng 80% mức lương tối thiểu là quá ít
(theo mức hiện hành thì học sinh được 968.000 đ/tháng), đề nghị tăng học bổng lên 100% mức lương tối thiểu.

- Đề nghị mua bảo hiểm tai nạn cho học sinh.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo: tiếp tục mở các chuyên đề có liên quan về công tác giáo dục dân tộc để các trường mới chia tách, mới xây dựng tham gia tập huấn, bồi dưỡng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục dân tộc như: chuyên đề về
tổ chức nội trú; chuyên đề giáo dục văn hóa dân tộc; chuyên đề dạy nghề truyền thống...; tăng cường các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục và công tác quản lý
ở các trường phổ thông dân tộc nội trú như: biên soạn tài liệu phục vụ giáo dục dân tộc; xây dựng website chung cho các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Trên đây Báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2010 - 2017 trên địa bàn tỉnh./.

(Đính kèm các biểu mẫu)

 

Nơi nhận:

- Hội đồng Dân tộc Quốc hội;

- TT: TU, HĐND, UBND tỉnh;

- Ban Dân tộc tỉnh;

- Sở GDĐT;

- Lưu VT. KGVX

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

                Đồng Văn Thanh