</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 23/BC-UBND Hậu Giang, ngày 27 tháng 2 năm 2018

BÁO CÁO

Kết quả thực hiện giao ước thi đua năm 2017

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018

 
 

 


Phần I

KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAO ƯỚC THI ĐUA NĂM 2017

I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Thực hiện Hướng dẫn số 2745/HD-BTĐKT ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động và bình xét thi đua của Cụm thi đua các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quy định số 20/QyĐ-CTNB ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Cụm trưởng Cụm thi đua các tỉnh Tây Nam Bộ về tổ chức hoạt động và bình xét thi đua của Cụm thi đua các tỉnh Tây Nam bộ năm 2017 và những năm tiếp theo; Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2017 của UBND tỉnh phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2017 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Trên cơ sở quán triệt, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tỉnh đã đề ra 19 chỉ tiêu chủ yếu (trong đó: có 07 chỉ tiêu thuộc lĩnh vực kinh tế, 07 chỉ tiêu thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội, 03 chỉ tiêu thuộc tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững, 02 chỉ tiêu thuộc lĩnh vực quốc phòng - an ninh), 13 nhóm giải pháp để triển khai thực hiện và ban hành nhiều chương trình, đề án, kế hoạch, giải pháp thực hiện. UBND tỉnh đã chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, tổ chức thực hiện quyết liệt và đồng bộ các nhóm giải pháp đã đề ra, chỉ đạo giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống Nhân dân, góp phần hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2017.

II. KẾT QUẢ THI ĐUA THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH

Mặc dù trong năm 2017 tỉnh Hậu Giang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu, môi trường nhưng với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của UBND tỉnh, sự quyết tâm của các cấp, các ngành, sự đồng hành các doanh nghiệp và sự đồng thuận của Nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 6,7%, trong đó, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp: 2,58%; khu vực công nghiệp - xây dựng: 11,29%; khu vực thương mại - dịch vụ: 7,39% (Kế hoạch 6,7- 7,2%, trong đó, khu vực I: 2,1%, khu vực II: 10,78%, khu vực III: 8%).

GRDP bình quân đầu người đạt 33,84 triệu đồng/người, tương đương 1.509 USD, tăng 5,55% so cùng kỳ (Kế hoạch 33,84 triệu đồng/người).

Cơ cấu kinh tế giữa 3 khu vực I, II, III là: 30,9% - 22,48% - 46,61% (Kế hoạch là; 30,9% - 22,1% - 47%, trong đó, khu vực I giảm 0,1% so cùng kỳ).

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn theo giá hiện hành 16.650 tỷ đồng, tăng 7,14% so cùng kỳ, (Kế hoạch 16.400 tỷ đồng).

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2017 theo giá so sánh 2010 tăng 5,2% so với cùng kỳ (năm 2016 chỉ tăng 1,68%). Tăng trưởng khu vực nông - lâm - ngư nghiệp đạt 2,58% (Kế hoạch: 2,1%, cùng kỳ 0,86%).

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển khá, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 tăng 21,8% so cùng kỳ. Nhìn chung, đa số các doanh nghiệp phát triển tương đối đều, ổn định. Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như: sản xuất giày dép; sản xuất hóa chất, sản xuất thuốc, hóa dược liệu… đầu tư mở rộng nhà máy, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm nên làm tăng giá trị sản xuất của các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung. UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,64% so cùng kỳ. Các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, đã giới thiệu doanh nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh tham gia quảng bá, trưng bày sản phẩm tại các Hội chợ trong và ngoài tỉnh, tổ chức nhiều Hội chợ hàng quảng bá sản phẩm. Công tác quản lý thị trường được tăng cường, chỉ số giá bình quân năm 2017 tăng 4,5% so với cùng kỳ (cùng kỳ 3%).

Tổng kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ và nhập khẩu 1.050 triệu USD, tăng 39,5% Kế hoạch; vượt 50% kế hoạch. Trong đó kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 740 triệu USD, tăng 33,3% so cùng kỳ (Kế hoạch là 578 triệu USD); kim ngạch nhập khẩu 310  triệu USD, tăng 56,8% so cùng kỳ (Kế hoạch là 120 triệu USD).

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 7.418,553 tỷ đồng, tăng 4,21% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa là 2.890 tỷ đồng, tăng 16,35% so với cùng kỳ, vượt 4,33% Kế hoạch (Kế hoạch là 2.770 tỷ đồng). Tổng chi ngân sách địa phương là 6.818,925 tỷ đồng, bằng 98,62% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển là 2.551,276 tỷ đồng, tăng 21,42% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân dưới 4,5% (KH <7%).

2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa - xã hội

2.1. Giáo dục và đào tạo

Năm học 2017 - 2018, toàn tỉnh huy động được 158.235 học sinh đến trường, đạt kế hoạch đề ra. Hậu Giang có 5.150 thí sinh đăng ký dự kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, tăng 545 thí sinh so với năm 2016. Tỷ lệ tốt nghiệp đạt 96,6%, tăng 10,34% so với cùng kỳ, trong đó hệ giáo dục phổ thông đạt tỷ lệ 99,54% tăng 5,96% so với cùng kỳ, hệ giáo dục thường xuyên đạt tỷ lệ 63,71%, tăng 20,16% so với cùng kỳ.

Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo, mặc dù rất khó khăn về nguồn kinh phí đầu tư, nhưng tỉnh đã nỗ lực huy động nhiều nguồn vốn lồng ghép, đến nay đã có 188/340 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 55,29% tổng số trường, tăng 18 trường so với cùng kỳ. Công tác nâng cao chất lượng giáo dục được tập trung chỉ đạo; số lượng học sinh yếu, kém và bỏ học giảm so với năm học trước; tỷ lệ học sinh, khá giỏi và kết quả các kỳ thi đã được nâng lên. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, THPT thực hiện đúng Kế hoạch và đạt tỷ lệ cao hơn so cùng kỳ.

2.2. Y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, vệ sinh an toàn thực phẩm

Việc thực hiện đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh, truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là công tác giám sát và xử lý môi trường tại các điểm có nguy cơ xảy ra dịch được quan tâm, từ đó trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch lớn. Trong năm 2017, số ca sốt xuất huyếtbệnh tay - chân - miệng, tuy có tăng so với cùng kỳ nhưng không có trường hợp tử vong.

Các chỉ tiêu về y tế đều đạt kế hoạch, như mức giảm sinh 0,1‰; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 12,6%; có 6,8 bác sĩ trên một vạn dân; 28,82 giường bệnh trên một vạn dân; tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ 100%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,76; tỷ lệ trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế 100%; tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 78,87%.

2.3. Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin - Truyền thông

Các sở ngành và địa phương đã tập trung chỉ đạo tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương như: đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; mừng Đảng quang vinh - mừng Xuân Đinh Dậu 2017; kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; ngày Quốc tế phụ nữ 8/3; kỷ niệm Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, kỷ niệm 42 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tuyên truyền các hoạt động Xúc tiến đầu tư Hậu Giang năm 2017; chào mừng năm APEC Việt Nam 2017...

Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận độngToàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, trong đó, chú trọng việc nhân rộng các mô hình và cách làm hay nhằm củng cố, nâng chất các danh hiệu văn hóa. Phong trào xây dựng xã văn hóa nông thôn mới và phường, thị trấn văn minh đô thị được tập trung thực hiện, đến nay toàn tỉnh đã có 25 xã văn hóa nông thôn mới, tăng 13 xã so cùng kỳ và 12 phường, thị trấn văn minh đô thị, tăng 2 phường so cùng kỳ.

Các hoạt động văn hóa văn nghệ, hội thi, hội diễn được tổ chức, hoàn thành việc tổ chức Đại hội Thể dục thể thao cấp huyện và cấp xã; ban hành Chương trình về bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2017 - 2020. Về thể thao thành tích cao đã tham gia 43 giải, đoạt 61 huy chương các loại, đã tổ chức thành công 12 giải cấp tỉnh và tham dự nhiều giải khu vực.     

Trong năm lượng du khách đến Hậu Giang tăng khá, do tổ chức được nhiều lễ hội và sự kiện, đã thu hút gần 332.000 lượt khách, tăng 41% so cùng kỳ, trong đó, khách quốc tế gần 11.000 lượt, khách nội địa 321.000 lượt, doanh thu đạt trên 121 tỷ đồng, tăng 72% so cùng kỳ. Xây dựng kế hoạch quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hậu Giang từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025. Xây dựng kế hoạch hợp tác, liên kết phát triển du lịch giữa Hậu Giang và thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến 2020.

Bưu chính viễn thông của tỉnh tiếp tục phát triển, quản lý chặt chẽ công tác báo chí, xuất bản, phát thanh - truyền hình, thông tin đối ngoại. Toàn tỉnh đạt mật độ 80 thuê bao điện thoại/100 dân; số thuê bao internet đạt 6 thuê bao/100 dân. Hỗ trợ lắp đặt đầu thu truyền hình số mặt đất đợt 2 cho 2.124 hộ nghèo, cận nghèo đạt 60% Kế hoạch.

2.4. Khoa học và Công nghệ

Về khoa học và công nghệ, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ. Đã tổ chức Hội đồng khoa học và công nghệ xét duyệt 18 và nghiệm thu 13 đề tài, dự án; đã chuyển giao kết quả nghiên cứu của 14 đề tài, dự án về các sở, ban, ngành tỉnh tiếp nhận triển khai ứng dụng vào thực tế. Một số mô hình được triển khai ứng dụng vào thực tế có hiệu quả như: mô hình sử dụng chế phẩm sinh học nấm xanh để quản lý dịch hại trên lúa; mô hình trồng chuối cấy mô sạch bệnh; mô hình nâng cao năng suất, chất lượng và rải vụ xoài cát Hòa Lộc đạt tiêu chuẩn VietGAP… đã thực hiện lưu giữ và bảo tồn nguồn gen 02 loại nông sản của tỉnh như: Quýt đường Long Trị; Khóm Queen Cầu Đúc. Trung tâm Thông tin và Ứng dụng khoa học công nghệ tỉnh đã triển khai 02 dự án cấp huyện.

Công tác quản lý về sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ thực hiện đúng quy định; thường xuyên thực hiện tốt công tác sở hữu trí tuệ, thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và quyền sở hữu trí tuệ. Triển khai tốt Hội thi Sáng tạo kỹ thuật, Tin học trẻ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Hậu Giang.

2.5. Công tác quản lý tài nguyên và Bảo vệ môi trường

Tỉnh đã triển khai thực hiện các dự án, đề án phục vụ thiết thực cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn tỉnh 99,87%, tình trạng tranh chấp đất đai giảm so cùng kỳ.

Các chương trình, dự án về xử lý rác thải được quan tâm trong cộng đồng, các địa phương đã triển khai nhân rộng mô hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trong xây dựng xã nông thôn mới. Nhiều chỉ tiêu quan trọng về môi trường đạt kết quả tích cực và tăng so cùng kỳ.

Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường được thực hiện thường xuyên, nhất là nguồn nước, đã tổ chức giám sát và báo cáo kết quả giám sát việc vận hành thử nghiệm công trình bảo vệ môi trường của dự án “Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam tại Cụm CNTT Phú Hữu A, thị trấn Mái Dầm, Châu Thành (hiện nay đã đi vào hoạt động chính thức). Đang khảo sát các vị trí lắp đặt các trạm quan trắc tự động liên tục (3 trạm nước và 01 trạm không khí).

Tỉnh đã đề xuất 41 dự án phục vụ về môi trường và biến đổi khí hậu; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn tỉnh đạt tỷ lệ 99,87% diện tích phải cấp. Các chương trình, dự án về xử lý rác thải được quan tâm trong cộng đồng, các địa phương đã triển khai nhân rộng mô hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trong xây dựng xã nông thôn mới. Các chỉ tiêu quan trọng về môi trường đạt kết quả tích cực và tăng so với cùng kỳ.

2.6. Lao động, giải quyết việc làm và thực hiện chính sách an sinh xã hội

Năm 2017, toàn tỉnh đã tạo và giải quyết việc làm mới cho 17.500 lao động, đạt 116,67% Kế hoạch, trong đó đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 75 lao động, đạt 107,14% kế hoạch. Cơ cấu lao động tiếp tục được chuyển dịch, giảm dần tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 57,10% (giảm 2,1% so năm trước), tăng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng lên 16%, thương mại và dịch vụ lên 27%.

Đào tạo nghề cho 6.573 lao động, đạt 101,1% kế hoạch, trong đó đào tạo trung cấp, cao đẳng là 719 người; đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 3.315 người; đào tạo nghề từ các chương trình, dự án khác là 2.539 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%, đạt 106% kế hoạch.

Các địa phương triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo, theo kết quả sơ bộ công tác điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,48% xuống còn 9,89%, biên độ giảm trong kỳ là 2,59%, đạt 128,9% kế hoạch.

Các chế độ, chính sách ưu đãi đối với gia đình chính sách, người có công được tổ chức thực hiện kịp thời, đúng đối tượng và hiệu quả, đã tiếp nhận mới 2.591 hồ sơ các loại, xét giải quyết 2.513 hồ sơ.

Công tác dân tộc được chăm lo; công tác phát triển thanh niên, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ về vật chất và tinh thần của các cơ quan chức năng từ tỉnh đến cơ sở cũng như của toàn xã hội. Công tác chăm sóc người cao tuổi, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ được chú trọng.

Các Hội xã hội và Trung tâm Công tác xã hội tỉnh duy trì hoạt động thiết thực và hiệu quả. Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động; an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội tại được tiến hành định kỳ tại các doanh nghiệp, công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Công tác bảo trợ xã hội được quan tâm, trợ cấp xã hội thường xuyên cho 335.224 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền hơn 121 tỷ đồng. Thực hiện hỗ trợ mai táng phí, trợ cấp đột xuất, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng Bảo trợ xã hội.

3. Lĩnh vực quốc phòng - an ninh

Tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo; lực lượng Công an, Quân sự phối hợp nắm chặt tình hình, bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm, đặc biệt là Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, các Đoàn công tác của Trung ương đến thăm và làm việc tại tỉnh, diễn đàn APEC 2017; hoàn thành công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017, đạt 100% chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, trong đó, đảng viên, chiếm 1,33%; tổ chức đón rước 360 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về địa phương; tổ chức cho 5.069 thanh niên tuổi 17 đăng ký nghĩa vụ quân sự, đạt 99,98%; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,74% dân số (tăng 0,04% so cùng kỳ); huấn luyện chiến sĩ mới; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện 2017 đạt yêu cầu.

Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm được tăng cường, phát hiện 214 vụ tội phạm về trật tự xã hội, giảm 13,4% so với cùng kỳ, nhiều loại tội phạm đã được kéo giảm như: trộm cắp tài sản giảm 23,5%, cố ý gây thương tích giảm 13,6%; cướp tài sản giảm 45,5%, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giảm 62,5%. Mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, triệt phá nhiều vụ tệ nạn xã hội.

Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực an toàn giao thông được quan tâm, kịp thời sửa chữa, dặm vá, phát quang cây xanh che khuất tầm nhìn; từng bước khắc phục tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè, dốc cầu để kinh doanh mua bán, tạo đường thông, hè thoáng, mỹ quan đô thị, tạo điều kiện cho người và phương tiện tham gia giao thông được thông suốt và an toàn.

Công tác tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhưng tình hình tai nạn giao thông còn diễn biến rất phức tạp, xảy ra 102 vụ, làm chết 66 người, bị thương 49 người, so với cùng kỳ số vụ tăng 56% (tăng 37 vụ), số người chết tăng 34% (tăng 17 người), số người bị thương tăng 53% (tăng 17 người). Nguyên nhân do: ý thức của người tham gia giao thông, chất lượng của một số công trình chưa đảm bảo, hệ thống biển báo ở một số nút giao thông chưa phù hợp (trên địa bàn thị xã Ngã Bảy), chất lượng hệ thống giao thông nông thôn, không đủ lực lượng, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác tuần tra kiểm soát...

Xảy ra 03 vụ cháy (01 cháy chợ, 02 cháy nhà dân), giảm 01 vụ so với cùng kỳ, làm chết 03 người, bị thương 03 người, thiệt hại tài sản khoảng 1,1 tỷ đồng.

4. Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Công tác thanh tra hành chính thực hiện 52 cuộc trên các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài chính ngân sách, mua sắm trang thiết bị, công tác đấu thầu, xây dựng cơ bản, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư... Đến nay, đã kết thúc thanh tra 45 cuộc. Qua thanh tra phát hiện vi phạm với tổng số tiền trên 5,6 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 3,5 tỷ đồng, kiến nghị khác 2,1 tỷ đồng, kiến nghị xử lý hành chính 06 tổ chức và 72 cá nhân, đã thu hồi 2,3 tỷ đồng.

Về thanh tra chuyên ngành, các sở, ngành tỉnh đã tiến hành thực hiện được 1.604 cuộc trên các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài chính, thông tin và truyền thông, xây dựng, tư pháp, công thương, giao thông vận tải. Đã kết thúc 1.604 cuộc, qua công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành phát hiện 465 trường hợp vi phạm và ra quyết định xử phạt 444 trường hợp. Các đơn vị đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính các tổ chức, cá nhân vi phạm với số tiền trên 1,8  tỷ đồng (đạt tỷ lệ 100%).

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố cáo, bảo đảm công khai, dân chủ, làm rõ nội dung vụ việc, xem xét đầy đủ các khía cạnh pháp lý và thực tế của vụ việc để có biện pháp giải quyết dứt điểm; báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của người có thẩm quyền và các cơ quan chức năng cấp trên về những vấn đề vướng mắc, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Trong năm, các ngành, các cấp trong tỉnh đã tiếp 2.853 lượt với 3.494 người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tăng 267 lượt so với cùng kỳ. Cấp tỉnh tiếp thường xuyên 965 lượt với 1.323 người; lãnh đạo tiếp định kỳ, đột xuất 134 lượt với 325 người. Cấp huyện tiếp thường xuyên 1.472 lượt với 1.472 người, lãnh đạo tiếp định kỳ và đột xuất 281 lượt với 374 người.

Tổng số đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền các ngành, các cấp trong tỉnh là 560 đơn, tăng 04 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 539/560 đơn (đạt tỷ lệ 96%). Cấp tỉnh đã giải quyết 230/245 (đạt 93%), cấp huyện đã giải quyết 309/315 (đạt 98%). Tổng số đơn tố cáo thuộc thẩm quyền là 14 đơn, giảm 13 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 14/14 đơn (đạt tỷ lệ 100%). Tổng số đơn phản ánh toàn tỉnh là 78 đơn, tăng 20 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 68/78 đơn (đạt tỷ lệ 87%).

Các cấp, các ngành trong tỉnh đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định pháp luật. Thực hiện tốt công tác triển khai, quán triệt, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng, xây dựng chương trình hành động phòng, chống tham nhũng. Thực hiện các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng, hướng vào những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng. Công tác kê khai tài sản, thu nhập bước đầu đã phát huy được hiệu quả trong công tác phòng ngừa và chống tham nhũng. Qua thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo, trong năm 2017 trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện hành vi tham nhũng.

5. Thực hiện cải cách hành chính

Các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật được các cơ quan chức năng tiến hành thường xuyên, gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và công tác hòa giải cơ sở, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và Nhân dân. Hiệu quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ngày càng được nâng cao do việc tăng cường đầu tư trang thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Đẩy mạnh công tác CCHC, cải cách thể chế, cơ chế, chính sách về các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của địa phương ngày càng hoàn thiện, thủ tục hành chính được đơn giản hóa, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi thu hút nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư ngày càng nhiều hơn.

Việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, đặc biệt là việc triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo hướng hiện đại và lắp đặt hệ thống camera giám sát cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần hiện đại hóa nền hành chính.

Bộ máy hành chính của tỉnh hiện nay tương đối ổn định, hoạt động đều khá tốt, hoàn thiện việc phân cấp quản lý thống nhất từ tỉnh đến cấp xã, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy định biên chế được UBND tỉnh phê duyệt cụ thể.

Về hạ tầng công nghệ thông tin nhìn chung các đơn vị đã trang bị máy tính, đường truyền internet tốt, hầu hết các đơn vị đều sử dụng phần mềm quản lý văn bản, một cửa điện tử, Cổng/Trang thông tin điện tử.

III. THI ĐUA THỰC HIỆN CÁC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Tổ chức học tập, quán triệt, triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Công tác quán triệt, triển khai các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng luôn được cấp ủy quan tâm chỉ đạo, triển khai kịp thời, đúng quy định; trong triển khai gắn với xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, kết luận cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị; việc tham gia học tập của cán bộ, đảng viên nghiêm túc, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, số lượng, có viết bài thu hoạch, tỷ lệ đảng viên tham gia học tập đạt trên 99%. Công tác triển khai, sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương, của Tỉnh ủy trên lĩnh vực khoa giáo được chỉ đạo thực hiện kịp thời, đúng quy định, góp phần đưa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Công tác giáo dục lý luận chính trị được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hướng đến mục tiêu “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động, tích cực phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể mở nhiều lớp bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên đề, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên, hội viên các đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả theo kế hoạch đề ra.

Các hoạt động lễ, kỷ niệm quan trọng của đất nước, sự kiện chính trị của địa phương được cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm tổ chức chu đáo, kịp thời hiệu quả đảm bảo ý nghĩa, tiết kiệm, đúng hướng dẫn của Trung ương, góp phần định hướng tư tưởng, nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Công tác tuyên truyền, báo chí, văn hóa - văn nghệ được định hướng tốt, bám vào các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của Nhân dân. Công tác nghiên cứu, biên soạn và tuyên truyền học tập lịch sử đảng bộ, lịch sử truyền thống ngành được các địa phương, đơn vị quan tâm, thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, góp phần giáo dục truyền thống Nhân dân ở địa phương, đơn vị, nhất là thế hệ trẻ.

2. Tổ chức có hiệu quả, có cách làm hay để tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị

Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 20-KH/TU ngày 29/8/2016 về thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 16 tháng 10 năm 2017 phát động phong trào thi đua làm theo gương Bác năm 2017 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục, có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo được sức lan tỏa, rộng khắp, nhất là thực hiện các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; trở thành công việc thường xuyên tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thực hiện lồng ghép nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào các phong trào thi đua, phát triển sản xuất, kinh doanh... góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các ngành lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học đi đôi với làm theo”. Người đứng đầu phải gương mẫu xây dựng kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên theo chức năng, nhiệm vụ của mình, xây dựng và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch với chi bộ hoặc với tập thể cơ quan, đơn vị nơi công tác. Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hàng năm và cả nhiệm kỳ.

Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết của cấp ủy và nội dung sinh hoạt định kỳ của chi bộ; gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các ngành chú trọng xây dựng những gương điển hình tiên tiến có thành tích tiêu biểu, xuất sắc để biểu dương, khen thưởng kịp thời trong học tập và làm theo gương Bác; thông qua phong trào thi đua để rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để phục vụ Nhân dân.

Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên, đồng thời phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

4. Công tác xây dựng Đảng

Thực hiện tốt các quy định về công tác tổ chức đảng và đảng viên, chú trọng nhất là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; sớm giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên năm 2017 đối với các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy; nắm tình hình và dự họp lệ các chi bộ được chọn làm điểm trong thực hiện Kế hoạch số 09-KH/BTCTU của Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Ban hành các biểu mẫu, hướng dẫn công tác tổ chức đại hội chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở nhiệm kỳ 2017 - 2020; các công văn, báo cáo, kế hoạch chuyên đề về công tác tổ chức đảng - đảng viên; cấp 1.995 thẻ đảng viên; kết nạp 1.651/1.500 đảng viên mới đạt 110,07% so với chỉ tiêu Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, nâng tổng số đảng viên toàn tỉnh hiện nay là 32.426 đảng viên.

5. Kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội luôn bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên đạt nhiều kết quả tích cực. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, đưa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống; công tác vận động quần chúng có nhiều chuyển biến tích cực, với phương châm gần dân, sát dân, hướng về cơ sở, kịp thời nắm bắt, diễn biến tư tưởng, lắng nghe ý kiến và giải quyết những bức xúc, kiến nghị của Nhân dân; chất lượng hoạt động, hiệu quả các phong trào, cuộc vận động, các công trình, phần việc gắn với tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả.

Việc góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng được Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quan tâm thực hiện; công tác tổ chức bộ máy, củng cố tổ chức hội, phát triển đoàn viên, hội viên đạt kết quả tích cực, nâng tổng số hộ có người tham gia các đoàn thể chiếm 78,27% (chỉ tiêu Nghị quyết là 75,73%) và tổ chức cơ sở của các đoàn thể vững mạnh chiếm 96,58% (chỉ tiêu Nghị quyết là 85%) và đảm bảo về chất lượng; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa trong hoạt động, vai trò giám sát, phản biện xã hội được phát huy.

Các hoạt động an sinh, phúc lợi, từ thiện xã hội luôn được Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quan tâm thực hiện, nhiều hoạt động thiết thực ý nghĩa đã được phát động, góp phần tạo thêm lòng tin trong Nhân dân và toàn xã hội.

Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh lần thứ X và Đại hội Hội Cựu chiến binh tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2017 - 2020; Đại hội Công đoàn và Đại hội Nông dân các cấp đã và đang triển khai thực hiện đúng kế hoạch.

IV. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2017

1. Công tác xây dựng, ban hành các văn bản để chỉ đạo, thực hiện công tác thi đua, khen thưởng

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, UBND tỉnh Hậu Giang tham mưu Tỉnh ủy Hậu Giang ban hành Chỉ thị số 46-CT/TU ngày 09 tháng 12 năm 2014 về việc thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Kế hoạch số 108/KH-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2014 về thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng.

Thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TTg ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Kế hoạch số 101/KH-UBND ngày 28 tháng 10 năm 2016 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và Kế hoạch 05 năm (2016 - 2020) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Trong chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng UBND tỉnh ban hành Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2015 về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Quyết định số 29/2016/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2016 của UBND tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Sau khi Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ được ban hành, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với các đơn vị có liên quan xây dựng dự thảo Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thay thế các quy định trước đây, để phù hợp với những nội dung trong Nghị định số 91/2017/NĐ-CP.

Công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh Hậu Giang trong những năm qua đã đi vào nề nếp có nhiều đổi mới trong cách tổ chức các phong trào thi đua, đổi mới về nội dung và hình thức; triển khai thực hiện các phong trào có kế hoạch, có tiêu chí, nội dung rõ ràng, cụ thể. Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các ngành tổ chức học tập, quán triệt Luật Thi đua, khen thưởng trong cán bộ chủ chốt và cán bộ, công chức, viên chức chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng; chỉ đạo Ban Thi đua - Khen thưởng phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang, Báo Hậu Giang tuyên truyền những nội dung cơ bản của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng.

Thực hiện Kế hoạch số 05/KH-HĐTĐKT ngày 09 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương về tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước các điển hình tiên tiến, mô hình mới, nhân tố mới năm 2017, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, các điển hình tiên tiến, mô hình mới, nhân tố mới năm 2017, từ kế hoạch này, thấy được sự phấn đấu nỗ lực thi đua của các đơn vị, cá nhân, phát hiện nhiều gương điển hình tiên tiến, cách làm hay, mô hình mới, nêu cao tinh thần năng động, sáng tạo trong công việc, trong sản xuất. Trên cơ sở đó, xét chọn được 04 điển hình, mô hình tiêu biểu xuất sắc giới thiệu tham dự Hội nghị biểu dương, tôn vinh gương điển hình toàn quốc năm 2017 theo Kế hoạch số 06/KH-HĐTĐKT ngày 09 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương.

2. Công tác tổ chức, triển khai thực hiện phong trào thi đua

a. Chương trình mục tiêu quốc gia về “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020”

Thực hiện Quyết định số 1730/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 07 tháng 3 năm 2017 phát động Phong trào thi đua “Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Hậu Giang chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020 đã đạt được một số kết quả rất tích cực, phong trào được người dân ủng hộ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được nâng lên. Công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân tiếp tục được quan tâm thông qua việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, xây dựng các mô hình trình diễn, nhân rộng các mô hình sản xuất trong nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao nhằm tăng thu nhập cho người dân như: xây dựng cánh đồng lớn, đề án 1000, xây dựng các mô hình đột phá...; chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất như: áp dụng ‘‘3 giảm, 3 tăng’’, ‘‘1 phải, 5 giảm’’, trồng hoa sinh thái, quản lý dịch bệnh bằng nấm xanh; phát huy các nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển các nghề thương mại và dịch vụ, đào tạo nghề trong nông thôn... Các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đã ban hành nhiều kế hoạch, phong trào thi đua gắn với xây dựng nông thôn mới như: huyện Châu Thành phát động phong trào thi đua Châu Thành "Chung sức xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2011 - 2020, thị xã Ngã Bảy tổ chức mở lớp tập huấn về chuyên đề “Xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới”,...

Tính đến nay, toàn tỉnh có 22/54 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, đạt 40,74% tổng số xã; 01 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới (thị xã Ngã Bảy). Số tiêu chí bình quân toàn tỉnh là 14,8 tiêu chí/xã. Đối với 17 xã đạt chuẩn trong giai đoạn 2011 - 2016: các xã cũng được các sở, ngành tỉnh, các địa phương quan tâm đầu tư hỗ trợ thực hiện mới, sửa chữa các công trình về cơ sở hạ tầng; hỗ trợ phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân đảm bảo giữ vững và nâng chất các tiêu chí.

Ban Chỉ đạo tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện và hàng tháng, quý tổ chức họp đình kỳ, cuối năm có sơ kết đánh giá, rút kinh nghiệm để chỉ đạo cho năm tiếp theo. Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo tỉnh tổ chức kiểm tra thực tế tiến độ triển khai thực hiện của một số địa phương còn lại giao cho Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh kiểm tra. Ban Chỉ đạo tỉnh tiếp tục phối hợp với tổ chức Hàn Quốc thực hiện mô hình thí điểm “Làng nông thôn mới” tại các xã Lương Tâm (huyện Long Mỹ) và xã Bình Thành (huyện Phụng Hiệp).

b. Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”

UBND tỉnh xây dựng Đề án số 02/ĐA-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2016 về giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh ban hành Kế hoạch số 03/KH.BCĐ ngày 06 tháng 3 năm 2017 về triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 nhằm tập trung huy động các nguồn lực xã hội, hỗ trợ tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin, giao thông đi lại, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, đặc biệt là phải có việc làm và thu nhập ổn định, từng bước cải thiện đời sống, tăng thu nhập; xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất, làm ăn có hiệu quả như: Mô hình “Khu dân cư không còn hộ nghèo”, Mô hình “Hợp tác xã làm ăn có hiệu quả”, Mô hình “Thoát nghèo bền vững, hỗ trợ bò giống cho đảng viên, hội viên, đoàn viên nghèo” hỗ trợ bò giống giúp đỡ đảng viên, hội viên, đoàn viên nghèo được 49 con bò giống, số tiền 520.000.000đ Kết quả sơ bộ công tác điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,48% xuống còn 9,89%, biên độ giảm trong kỳ là 2,59%, đạt 128,9% kế hoạch, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh năm 2017.

c. Kết quả triển khai thực hiện phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”

Hưởng ứng phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” theo Kế hoạch số 27/KH-HĐTĐKT ngày 29 tháng 8 năm 2017 của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 121/KH-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2017 phát động Phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, trong đó xây dựng và tạo lập môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp bằng những chính sách, công cụ hỗ trợ đầu tư kinh doanh; hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản, trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, góp phần tạo việc làm, tăng năng suất lao động, đóng góp vào quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của tỉnh; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về kế hoạch khởi nghiệp của tỉnh, xây dựng chuyên trang, chuyên mục về khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trên trang thông tin điện tử của Sở Kế hoạch và Đầu tư, thường xuyên cập nhật thông tin, những chính sách mới về khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp để các cá nhân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin, cơ hội kinh doanh, phát triển ý tưởng kinh doanh; hàng năm tổ chức các buổi tọa đàm, tổ chức đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho doanh nghiệp khởi nghiệp; các chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ thành lập doanh nghiệp, về tài chính, thuế, về thông tin, môi trường pháp lý kinh doanh, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, mặt bằng; hiểu được ý nghĩa, vai trò của hoạt động khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các cấp ủy Đảng đã tập trung chỉ đạo, nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị.

Môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện. Hậu Giang sau một năm thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ bước đầu cũng đạt được nhiều kết quả phấn khởi cho doanh nghiệp. Trong năm, toàn tỉnh có 800 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký là 2.700 tỷ đồng, tăng 5% số doanh nghiệp và tăng 1,5 lần về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; lũy kế, từ trước đến nay, đã cấp 4.670 doanh nghiệp, tổng vốn trên 46.000 tỷ đồng, số doanh nghiệp đang hoạt động khoảng trên 2.000 doanh nghiệp. Trong năm số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp; số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngưng hoạt động 62 doanh nghiệp. Tổng số hộ hộ kinh doanh cá thể toàn tỉnh trên 41.000 cơ sở. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn.

Về cấp Giấy chứng nhận đầu tư, trong năm đã cấp 05 giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký 504 tỷ đồng (cùng kỳ là 15 dự án, tổng vốn 1.169 tỷ đồng); lũy kế từ trước đến nay, trên địa bàn tỉnh có 490 dự án đầu tư, với tổng số vốn là 123.412 tỷ đồng.

Năm 2016, chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của tỉnh xếp vị trí thứ 37/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, so với năm 2015 giảm 01 bậc, năm 2015 xếp thứ 36/63 tỉnh, nhưng vẫn còn nằm trong nhóm hạng khá, đứng vị trí 8/13 của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tăng 01 bậc so với năm 2015.

UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 50/KH-UBND “Kế hoạch Khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang và ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hậu Giang. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn. Tỉnh tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2017, với chủ đề “Hậu Giang - Tiềm năng đầu tư và phát triển”, đã trao chủ trương đầu tư cho 05 dự án với tổng số vốn là 1.944 tỷ đồng, ký kết biên bản hợp tác với Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Deagu-Gyeongbuk Hàn Quốc, ký biên bản ghi nhớ hợp tác giữa tỉnh Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Sóc Trăng; ký kết biên bản ghi nhớ thỏa thuận đầu tư giữa tỉnh Hậu Giang với Công ty TNHH MTV Phongsubthavy xây dựng Cầu đường, Hạ tầng và thủy lợiTập đoàn Jinko Solar (Việt Nam), với tổng số vốn là 82.168 tỷ đồng; đã tổ chức 03 Đoàn công tác của tỉnh ký kết hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp với một số doanh nghiệp tại Hàn Quốc.

d. Việc tổ chức hoạt động cụm, khối theo hướng dẫn 1479/HD-BTĐKT của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương

UBND tỉnh ban hành các Quyết định chia cụm, khối thi đua trên địa bàn tỉnh theo Hướng dẫn số 1479/HD-BTĐKT ngày 25 tháng 7 năm 2016 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc tổ chức chia Cụm, Khối các tỉnh, thành phố và theo tinh thần Nghị định 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ, trong đó: Cụm thi đua huyện, thị xã, thành phố; Cụm thi đua xã, phường, thị trấn; Khối thi đua các sở, ban, ngành và đoàn thể tỉnh; Khối thi đua các đơn vị thuộc ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh; Khối thi đua các đơn vị thuộc ngành Y tế tỉnh. Khi Quy chế ban hành sẽ triển khai đến toàn bộ đến các đơn vị, địa phương trong tỉnh tổ chức thực hiện, trong đó giao trách nhiệm cho Cụm trưởng, Khối trưởng điều hành, xây dựng tiêu chuẩn thi đua, thang điểm phù hợp với tình hình của cơ quan, đơn vị, địa phương. Cuối năm dựa vào các tiêu chí thi đua, thang điểm đã được thống nhất trong Cụm, Khối thi đua để chấm điểm và thông qua Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh công nhận kết quả; đề nghị tặng Cờ Thi đua của UBND tỉnh cho các đơn vị đạt hạng nhất, nhì, ba của các Cụm, Khối thi đua; xét không quá 20% các đơn vị dẫn đầu được tặng Cờ Thi đua của UBND tỉnh để đề nghị tặng Cờ Thi đua của Chính phủ.

3. Kết quả phát hiện, giới thiệu, đào tạo, bồi dưỡng, nhân rộng gương  điển hình tiên tiến của địa phương trong năm 2017

UBND tỉnh Hậu Giang tập trung chỉ đạo công tác xây dựng và nhân điển hình tiên tiến; biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân, các doanh nghiệp tiêu biểu; đặc biệt là các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và nhiều gương điển hình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều mô hình, điển hình tiên tiến, cụ thể như: phong trào lao động sáng tạo; xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương; phong trào thi đua “hai tốt” - phong trào thi đua đổi mới, sáng tạo trong dạy và học, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong ngành giáo dục; cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phong trào Thanh niên lập thân, lập nghiệp; khởi nghiệp. Hậu Giang có 04 điển hình tiên tiến tham dự Hội nghị biểu dương, tôn vinh các điển hình tiên tiến toàn quốc năm 2017 tại Hà Nội.

Phát huy hơn nữa chương trình phối hợp trong công tác tuyên truyền giữa Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh ký với Ban Dân vận Tỉnh ủy về đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” giai đoạn 2014 - 2020; Liên đoàn Lao động tỉnh về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2014 - 2018; Hội Nông dân tỉnh về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2013 - 2018; Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang về công tác tuyên truyền phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2013 - 2016.

Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang thực hiện trên 40 phóng sự, 50 tin tuyên truyền trong các chương trình, bản tin thời sự của Đài, nội dung đưa Gương người tốt việc tốt, sản xuất kinh doanh giỏi, vượt khó học giỏi, sáng tạo khoa học kỹ thuật,... Bên cạnh còn thông tin tuyên truyền trong các chương trình như “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Sáng tạo trẻ”, “Nông thôn mới”, “Nông thôn Hậu Giang” cũng lồng ghép tuyên truyền về nội dung này. Trên sóng Phát thanh tuyên truyền 15 mô hình tiên tiến trên các lĩnh vực: giáo dục, xây dựng nông thôn mới, làm giao thông thủy lợi, dân vận khéo, sáng tạo trẻ, bảo hiểm y tế, dân số, Cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên, nông dân làm kinh tế giỏi; học tập theo Bác trong các Chương trình Thời sự hàng ngày, Phát thanh nông thôn, Noi theo gương sáng Bác Hồ.

Báo Hậu Giang xây dựng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; tuyên dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân đã có những thành tích tiêu biểu trong phong trào thi đua của tỉnh nhà; đã tạo được sự hưởng ứng tích cực và đồng thuận cao trong Nhân dân khi tham gia các phong trào thi đua của địa phương phát động.

Thực hiện Công văn số 1120/BTĐKT-TC ngày 14 tháng 6 năm 2016 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc tuyên truyền, giới thiệu, cung cấp danh sách các gương điển hình tiên tiến, hàng tháng giới thiệu 05 gương điển hình tiên tiến của tỉnh Hậu Giang về Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương. Một số điển hình nổi bật của tỉnh Hậu Giang:

- Em Huỳnh Hoàng Khánh học sinh lớp 8A1 và em Nguyễn Thị Ngọc Dung học sinh lớp 9A1 Trường Phổ thông dân tộc nội trú Him Lam, tỉnh Hậu Giang (Sáng tạo mô hình “Đập ngăn mặn thông minh” đạt giải ba và một giải đặc biệt tại cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2016-2017).

- Ông Trần Thanh Hùng, ấp Thuận Hưng, thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, đã thành công với việc ương giống cá chạch lấu. Đây là loài cá rất khó ương giống, có giá trị kinh tế cao và đầy tiềm năng phát triển.

- Ông Huỳnh Văn Dân, ấp Mái Dầm, xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, sản xuất giống cây ăn trái, cây cảnh (Hợp tác xã Huỳnh Dân).

- Em Trần Văn Thương học sinh lớp 11TN2 và em Lê Văn Duy học sinh lớp 10A2 Trường THPT Vị Thủy (Mô hình “xe canh tác lúa đa sử dụng năng lượng xanh” đạt giải nhì và một giải đặc biệt cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2016-2017).

- Ông Lâm Minh Quang, Chủ nhiệm Câu lạc bộ “Người tình nguyện” thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Trong năm Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh ban hành Kế hoạch số 01/KH-HĐTĐKT ngày 09 tháng 10 năm 2017 về việc tổ chức tập huấn công tác thi đua, khen thưởng năm 2017, tổ chức mở 1 lớp cho 120 công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng của các đơn vị, địa phương; tập huấn chủ trương, chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng của Trung ương, những điểm mới trong Nghị định số 91/2017/NĐ-CP, trao đổi và thảo luận về những bất cập, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng.

4. Công tác khen thưởng

Đổi mới cách tổ chức các phong trào thi đua cả về nội dung và hình thức, triển khai có bài bản, có tiêu chí, nội dung rõ ràng, cụ thể. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Tuyên truyền các phong trào thi đua; các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; đẩy mạnh tuyên truyền và nêu gương các điển hình tiên tiến, gương người tốt - việc tốt, mô hình mới trong các phong trào thi đua; biểu dương người lao động giỏi, lao động sáng tạo, những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực qua thực hiện các phong trào thi đua; khen thưởng phải dựa trên cơ sở đánh giá đúng thành tích, đúng tiêu chuẩn, bảo đảm dân chủ, công khai; tránh khen thưởng tràn lan làm giảm tác dụng của việc khen thưởng, phong trào thi đua phải tạo được sức lan tỏa trong các cấp, các ngành và toàn thể Nhân dân, từ đó tỷ lệ khen thưởng đối với người trực tiếp lao động sản xuất, làm công tác chuyên môn dần tăng lên.

Hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến đã thẩm định và trình Trung ương 128 trường hợp, đã có Quyết định 106 trường hợp, còn 22 trường hợp để lại do chưa đủ tiêu chuẩn,bản khai thành tích chưa rõ ràng; còn tồn động khoảng 200 hồ sơ đang thẩm định, do hồ sơ chưa đầy đủ phải chờ địa phương bổ sung; đề nghị về Trung ương khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” 2 đợt cho 34 cá nhân đã có quyết định và tổ chức lễ phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho các mẹ hoặc thân nhân vào dịp 27/7 vừa qua, hồ sơ khen thưởng Mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh đến nay cơ bản đã giải quyết dứt điểm; Huân chương Độc lập cho gia đình có nhiều liệt sỹ phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đến nay đã rà soát được khoảng 200 hồ sơ, đang hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị về Trung ương khen thưởng.

Kết quả khen thưởng trong năm 2017:

- Khen thưởng cấp Nhà nước:

+ Khen thường xuyên: Huân chương Lao động hạng Nhì 02 tập thể và 02 cá nhân (cá nhân là lãnh đạo 02 chiếm tỷ lệ 100%); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 13 cá nhân (cá nhân là lãnh đạo 01 chiếm tỷ lệ 7,7%); Cờ Thi đua của Chính phủ cho 08 tập thể, đã có Quyết định 04 tập thể, các tập thể còn lại chờ văn bản hiệp y của Bộ, ngành Trung ương.

+ Khen chuyên đề, đột xuất: Huân chương Lao động hạng Ba 02 tập thể,

 Bằng khen Thủ tướng Chính phủ 03 tập thể.

- Khen thưởng thành tích kháng chiến:

+ Huân chương kháng chiến hạng Nhất: 04 cá nhân.

+ Huân chương kháng chiến hạng Nhì: 04 cá nhân.

+ Huân chương kháng chiến hạng Ba: 16 cá nhân.

+ Huy chương kháng chiến hạng Nhất: 47 cá nhân.

+ Huy chương kháng chiến hạng Nhì: 34 cá nhân.

+ Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 01 cá nhân.

+ Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh: 21 cá nhân.

- Khen thưởng cấp tỉnh: tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 4.363 tập thể và cá nhân (trong đó: tập thể là 1.121 và cá nhân là 3.242); tặng Cờ Thi đua của UBND tỉnh cho 87 tập thể; công nhận Tập thể lao động xuất sắc cho 471 tập thể. Trong đó:

+ Khen thưởng công trạng và thành tích đạt được đối với cá nhân được 1.601 trường hợp (trong đó: 426 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 26,61% (năm 2016 là 57,76%); 1.175 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 73,39% (năm 2016 là 42,23%)).

+ Khen thưởng chuyên đề, đột xuất đối với cá nhân được 1.618 trường hợp (trong đó: 418 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 25,83% (năm 2016 là 58,42%); 1200 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 74,16% (năm 2016  là 41,57%)).

+ Khen thưởng thành tích kháng chiến: 23 cá nhân.

5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về công tác thi đua, khen thưởng

Tổ chức kiểm tra tại 08/08 huyện, thị xã, thành phố (kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; việc công nhận sáng kiến cấp cơ sở các đơn vị, địa phương và trường học). Kiểm tra chuyên đề tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, chưa phát hiện sai phạm.

Trong năm 2017, tiếp nhận 03 trường hợp khiếu kiện về công tác thi đua, khen thưởng thành tích kháng chiến, đã thụ lý giải quyết dứt điểm 03 trường hợp.

6. Tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng

Tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh: Phó Giám đốc Sở Nội vụ kiêm Trưởng ban; tổng số công chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng là 09 công chức (giảm 01 công chức so với năm 2016).

Công chức chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng cấp  huyện, thị xã, thành phố: 100% UBND huyện, thị xã, thành phố có 02 công chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng, trong đó, có 01 Phó Trưởng phòng Phòng Nội vụ là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp huyện và 01 chuyên viên.

Công chức làm công tác thi đua, khen thưởng cấp xã, phường, thị trấn: 100% xã, phường, thị trấn bố trí công chức Văn phòng - Thống kê phụ trách công tác thi đua, khen thưởng.

Đội ngũ chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng đa phần là công chức, viên chức trẻ có tinh thần trách nhiệm, năng lực, trình độ chuyên môn, tham mưu tốt cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; tham mưu xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện chặt chẽ các phong trào thi đua. Nhờ đó, công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh những năm qua đã đi vào nề nếp, đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo được sự đồng thuận cao trong Nhân dân. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng còn yếu trong công tác tham mưu, tổ chức, kiểm tra, đôn đốc các phong trào thi đua, chưa thấy rõ vai trò của mình trong công tác thi đua, khen thưởng.

7. Thực hiện chế độ thông tin báo cáo

Việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo được thực hiện đúng theo quy định của Trung ương và Quy định số 20/QyĐ-CTNB ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Cụm trưởng Cụm thi đua các tỉnh Tây Nam bộ về tổ chức hoạt động và bình xét thi đua của Cụm thi đua các tỉnh Tây Nam bộ năm 2017 và những năm tiếp theo.

V. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Những mặt làm được

UBND tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai quán triệt Kế hoạch phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2017 đến các cấp, các ngành trong tỉnh theo đúng tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, nhắc nhở các địa phương, đơn vị chấp hành nghiêm túc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 16 tháng 11 năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, Khen thưởng nhằm góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, thường xuyên chỉ đạo đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đồng thời, kiểm tra, tháo gỡ những khó khăn nhằm giúp các địa phương, đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Trong quá trình triển khai phát động phong trào thi đua, các ngành, các cấp đăng ký thi đua với Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh bằng những nội dung, chỉ tiêu cụ thể; có quan tâm theo dõi, tổng kết đánh giá, đề nghị khen thưởng kịp thời. Các mô hình mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt đã phát hiện, biểu dương, nhân rộng điển hình kịp thời. Công tác thi đua, khen thưởng được nghiên cứu, đổi mới về nội dung và phương pháp hoạt động, tổ chức thi đua có nề nếp phù hợp với tình hình thực tế, nội dung thi đua bám sát và phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Các phong trào thi đua của tỉnh đã tạo động lực mạnh mẽ, góp phần phát triển sản xuất, đời sống Nhân dân được đảm bảo, tăng cường quốc phòng an ninh.

Tỷ lệ khen thưởng, tuyên dương người lao động trực tiếp, công nhân, nông dân được nâng lên, đã khích lệ, thu hút được sự hưởng ứng tham gia của đông đảo quần chúng Nhân dân và được sự quan tâm của dư luận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác thi đua, khen thưởng

Công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến có nơi còn mang tính hình thức, thiếu tính thuyết phục, không có sức thu hút đối tượng học tập làm theo, công tác tuyên truyền, nêu gương điển hình tiên tiến đôi lúc chưa được chú trọng.

Việc biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp cho phong trào thi đua từng lúc, từng nơi thực hiện thiếu tính sâu sát và kịp thời.

Một số cơ quan, địa phương thường xuyên thay đổi công chức làm công tác thi đua, khen thưởng; do vậy thiếu tính kế thừa và hạn chế năng lực tham mưu, nặng về xét duyệt và làm thủ tục khen thưởng, chưa tạo được đột phá trong nghiên cứu, đề xuất chủ trương, biện pháp và tổ chức phong trào thi đua.

3. Nguyên nhân tồn tại, biện pháp khắc phục

a. Nguyên nhân tồn tại

Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể Nhân dân, các tổ chức xã hội trong việc phát động, tổ chức phong trào thi đua có lúc, có việc chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ.

Công tác tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong một số lãnh đạo các ngành, các cấp còn chung chung.

Phần lớn cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng ở cơ sở đều là kiêm nhiệm, lại thường xuyên thay đổi vị trí công tác, do vậy thiếu tính kế thừa và hạn chế năng lực tham mưu, nặng về xét duyệt và làm thủ tục khen thưởng.

b. Biện pháp khắc phục

Tổ chức triển khai, quán triệt kịp thời các văn bản mới của Trung ương về công tác thi đua, khen thưởng; đồng thời ban hành theo thẩm quyền các văn bản chỉ đạo, điều hành công tác thi đua, khen thưởng đúng quy định và phù hợp điều kiện của tỉnh để tổ chức thực hiện.

Thường xuyên, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng; kịp thời phát hiện, biểu dương những tập thể, cá nhân, cơ quan, đơn vị, địa phương làm tốt công tác thi đua, khen thưởng; đồng thời, phê bình, góp ý những nơi không làm tốt. Qua các đợt thi đua trong năm các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương phải quan tâm chỉ đạo sơ kết, cuối năm phải có tổng kết rút kinh nghiệm.

Tăng cường phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, các mô hình mới để nhân rộng trên địa bàn tỉnh; làm tốt công tác khen thưởng, chú trọng khen thưởng cho nông dân, công nhân, người trực tiếp lao động sản xuất.

Lãnh đạo các đơn vị, địa phương cần bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình để tổ chức phát động các phong trào thi đua đạt hiệu quả hơn.

Phần II

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC

THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2018

 

Năm 2018, bên cạnh những điều kiện thuận lợi do kinh tế trong nước đang tăng trưởng khá ổn định, nhưng do diễn biến phức tạp của tình hình chính trị thế giới và khu vực, sự phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro của kinh tế thế giới, đã và đang là những thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Trong tỉnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, thiên tai, dịch bệnh diễn biến nghiêm trọng, khó lường. Nhu cầu đầu tư cho phát triển, nhất là kết cấu hạ tầng, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn, nhưng nguồn lực của tỉnh còn rất hạn hẹp, là những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và đời sống của Nhân dân.

I. Khái quát phương hướng, nhiệm vụ chung của tỉnh

1. Mục tiêu

“Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phát triển kinh tế theo chiều sâu; khai thác tốt tiềm năng; tăng cường công tác đối ngoại; đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội; bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng - an ninh, kỷ luật, kỷ cương; phòng chống tham nhũng, lãng phí”.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2018

a) Lĩnh vực kinh tế

(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP tăng 6,8 - 7,2%, trong đó, khu vực I tăng 2,2%, khu vực II tăng 11%, khu vực III tăng 7,8%.

(2) GRDP bình quân đầu người đạt 36,75 triệu đồng/người, tương đương 1.633 USD, tăng 8,2% so cùng kỳ.

(3) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I từ 30,9% còn 29,89%, tăng tỷ trọng khu vực II từ 22,48% lên 23,41% và khu vực III từ 46,61% lên 46,7%.

(4) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn theo giá hiện hành 17.565 tỷ đồng, tăng 5,5% so cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP chiếm 61,6%.

(5) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6.433,397 tỷ đồng, bằng 86,72% so cùng kỳ, trong đó: thu nội địa 2.735 tỷ đồng, bằng 94,64% so cùng kỳ. Tổng chi 6.076,697 tỷ đồng, bằng 89,12% so cùng kỳ, trong đó, chi đầu tư phát triển 2.351,401 tỷ đồng, bằng 93,63% so cùng kỳ.

(6) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ của các tổ chức tín dụng là 1.060 triệu USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 790 triệu USD, tăng 6,7% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu 270 triệu USD, bằng 87,1% so cùng kỳ.

(7) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân dưới 7% (không vượt quá bình quân cả nước).

b) Lĩnh vực văn hóa - xã hội

(8) Dân số trung bình khoảng 775.632 người; tỷ lệ tăng dân số trung bình 2,2, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,5 .

(9) Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 2%/năm.

(10) Số lao động được tạo việc làm là 15.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 3,5%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn còn 1,5%.

(11) Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 60 - 65% tổng số trường, số sinh viên trên 10.000 người dân là 172 sinh viên.

(12) Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 100%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 12,3%; số bác sĩ trên 10.000 người dân là 7,3 bác sĩ; số giường bệnh trên 10.000 người dân là 29,27 giường; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 82,5%, tuổi thọ trung bình 75 tuổi.

(13) Số thuê bao điện thoại/100 dân là 80 điện thoại; số thuê bao Internet băng thông rộng/100 dân đạt 6,2 thuê bao; diện tích nhà ở bình quân/người 22-23 m2.

(14) Xây dựng công nhận mới 04 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã nông thôn mới lên 26/54 xã, đạt 48,15% tổng số xã, các xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí. Công nhận mới 02 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị.

c) Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững

(15) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 1,92%.

(16) Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh 96%; tỷ lệ dân số thành thị được cấp nước sạch 91%.

(17) Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị 83%; tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế đạt tiêu chuẩn 80%; tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn 33,3%.

d) Lĩnh vực quốc phòng - an ninh

(18) Xây dựng lực lượng quân sự, công an chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt đúng theo quy định của Quân khu. Hoàn thành tốt công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ.

(19) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm; kéo giảm tai nạn giao thông 5-10%.

II. Phương hướng, nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng 

1. Tiếp tục tổ chức quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng, đặc biệt là Chỉ thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 15/12/2016 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và Kế hoạch 05 năm (2016 - 2020) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; gắn kết thực hiện thi đua với đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt triển khai Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung; các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng: Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ, Thông tư 08/2017/TT-BNV ngày 27/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; đề ra các biện pháp đổi mới nội dung, phương thức tổ chức phong trào thi đua và công tác thi đua, khen thưởng để nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, lãnh đạo công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước.

2. Tổ chức phát động các phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị; đẩy mạnh các phong trào thi đua đặc thù của tỉnh; triển khai, thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua do Thủ tướng phát động: Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”; phấn đấu hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 và kế hoạch 5 năm (2016 - 2020), lập thành tích chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của địa phương.

3. Tổ chức tổng kết phong trào thi đua năm 2017, phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2018. Triển khai nhiệm vụ và ký kết giao ước thi đua năm 2018.

4. Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức các phong trào thi đua, trên cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, biện pháp phù hợp để phong trào thi đua có hiệu quả thiết thực; duy trì nhân rộng biện pháp tổ chức ký kết giao ước thi đua của các đơn vị địa phương trong Cụm, Khối thi đua của tỉnh. Phong trào thi đua phải được phát động sâu rộng đến tận cơ sở, người lao động, tạo được sự hưởng ứng tự nguyện tham gia đông đảo; phong trào thi đua phải thiết thực, không phô trương hình thức, đề ra nội dung và chỉ tiêu thi đua cụ thể làm cơ sở phấn đấu, đồng thời là cơ sở đánh giá kết quả thi đua. Đề cao trách nhiệm, vai trò của người đứng đầu trong việc phát hiện các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc để khen thưởng kịp thời; tăng cường khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp. Tập trung giải quyết dứt điểm hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến còn tồn đọng trên địa bàn tỉnh.

5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát hiện và nhân rộng điển hình tiên tiến; quan tâm chỉ đạo sơ kết, tổng kết, tuyên dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, mô hình mới, cách làm hay trong các phong trào thi đua của tỉnh.

6. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp; phát huy vai trò, trách nhiệm của thành viên Hội đồng trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng. Tổ chức tập huấn Nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh.

Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện giao ước thi đua năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng năm 2018 của tỉnh Hậu Giang./.

 

 

Nơi nhận:

- Ban TĐKT TW (HN, TP. HCM);

- Cụm trưởng Cụm thi đua các tỉnh TNB;

- UBND các tỉnh TNB;

- TT: TU, HĐND, UBND tỉnh;             

- Thành viên HĐ.TĐKT tỉnh;

- Ban TĐKT tỉnh các tỉnh TNB;

- Lưu: VT, TH.KM

D\2017\1 BC thi dua kt-xh qp-an 2016 UBND tinh

                          

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

                   Đồng Văn Thanh