</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 189/BC-UBND Hậu Giang, ngày 8 tháng 12 năm 2017

BÁO CÁO

Tình hình thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
trên địa bàn tỉnh năm 2017

 
 

 


          Thực hiện Công văn số 4360/LĐTBXH-TE ngày 16 tháng 10 năm 2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc kiểm tra liên ngành tình
hình thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang báo cáo tình hình thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn tỉnh năm 2017, cụ thể như sau:

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Tỉnh Hậu Giang được thành lập từ năm 2004, trên cơ sở chia tách tỉnh
Cần Thơ (cũ), phía đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh
Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 160.058,69 ha; toàn tỉnh có 08 đơn vị hành chính huyện, thị xã và thành phố (gọi tắt là cấp huyện), có 76 đơn vị xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) và 539 ấp, khu vực; dân số là 773.556 người. Tổng số trẻ em dưới 16 tuổi 182.313 em; trong đó, số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 2.395 em, số trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt là 24.893 em. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 12,48%, hộ cận nghèo chiếm 5,31%. Trình độ dân trí thấp, phần lớn người dân còn nghèo, phải lo mưu sinh, ít có điều kiện tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng nên hiểu biết về kiến thức pháp luật, nhận thức về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vẫn còn hạn chế nhất định. Đồng thời, những năm qua, Tỉnh cũng gặp nhiều khó khăn về thiên tai như hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; biến động bất lợi của thị trường trong nước và quốc tế, phần nào đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Tuy nhiên, tỉnh đã vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách năng động, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành, phát huy nguồn lực của địa phương nên tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều tăng, xã hội ổn định, góp phần quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; trình độ dân trí, nhận thức của các tầng lớp Nhân dân về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được nâng lên rõ nét; Luật và các văn bản liên quan đến trẻ em được triển khai toàn diện ở các cấp, các ngành và địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng; từ đó, góp phần thực hiện tốt Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2013 - 2020.

 

II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Tình hình triển khai thực hiện các văn bản:

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện rộng rãi Luật Trẻ em năm 2016, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em, Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em, các Quyết định, Chương trình, Kế hoạch của Thủ tướng chính phủ (Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2012; Quyết định số 234/QĐ-TTg ngày 05 tháng 2 năm 2016; Quyết định số 34/2014/QĐ-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2014 ...); đồng thời, Tỉnh đã ban hành các Chương trình, Kế hoạch triển khai thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cụ thể như:

- Chương trình số 4/CTr-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2013 - 2020.

- Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 12 tháng 9 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2014 - 2020.

- Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 4 tháng 11 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc xây dựng xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2014 - 2020.

- Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực ngược đãi giai đoạn 2015 - 2020 trên địa bàn tỉnh.

- Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Quyết định số 1235/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em giai đoạn 2016 - 2020.

          - Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 - 2020.

          - Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 30 tháng 5 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích giai đoạn 2016-2020.

          - Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Hậu Giang 2017 - 2020.

          - Chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể xây dựng các Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo vệ trẻ em giai đoạn hàng năm và hướng dẫn địa phương tổ chức các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em một cách cụ thể.

 

2. Các vấn đề trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:

a) Hoạt động bảo vệ trẻ em:

- Tình hình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; thực hiện chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng ngừa xâm hại và bạo lực đối với trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên

Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh chiếm 14,97% tổng số trẻ em. Công tác bảo vệ trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt luôn được quan tâm, đặc biệt là việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em như:

+ Cấp giấy khai sinh cho trẻ: toàn tỉnh đã cấp khai sinh đúng hạn cho trẻ đạt 95% ( 05% còn lại do gia đình làm khai sinh trễ hẹn).

+ Công tác hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em và gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo…: luôn được sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền địa phương và các ngành, mặt trận, đoàn thể.

+ Hàng năm, xây dựng kế hoạch hướng dẫn địa phương thực hiện tốt các kế hoạch chuyên đề về bảo vệ trẻ em; tuyên truyền sâu rộng về Luật Trẻ em cho cộng đồng và chính bản thân các em biết để phòng ngừa, không để kẻ xấu lợi dụng…

+ Nhân rộng mô hình, xây dựng xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em: đến nay, đã triển khai đến 76/76 xã, phường, thị trấn; cuối năm 2016 có 75/76 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt các tiêu chí xã, phường phù, thị trấn hợp với trẻ em theo quy định (đạt 98,68%).

+ Việc thực hiện thực hiện chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng ngừa xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên: ngành Công an thường xuyên phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống tội phạm và tệ nạn xâm nhập học đường thông qua các loại hình báo tường, hội thi văn nghệ nhằm tuyên truyền giáo dục pháp luật, xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh cho học sinh, sinh viên; tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ em, kỹ năng tự bảo vệ mình, phòng tránh các nguy cơ bị bạo lực, bị xâm hại; rà soát các điểm trông giữ trẻ trên địa bàn nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp đánh đập, ngược đãi trẻ em, nhất là các điểm giữ trẻ ở nông thôn, khu công nghiệp ...; thường xuyên gặp gỡ, giáo dục học sinh cá biệt hay tụ tập ăn chơi, đi lại với các đối tượng có tiền án, tiền sự, tránh trường hợp các em bị rủ rê, lôi kéo thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức 29 cuộc tuyên truyền về phòng, chống ma túy, mại dâm cho học sinh trong các trường học, với 9.369 học sinh tham dự; củng cố các Câu lạc bộ Ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, Gia đình bình đẳng, ấm no hạnh phúc, tạo khí thế thi đua trong tháng cao điểm, hướng tới phát động toàn xã hội chung tay bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, xâm hại để trẻ em được sống trong môi trường lành mạnh an toàn; nhân rộng mô hình Phòng ngừa, trợ giúp người chưa thành niên vi phạm pháp luật dựa vào cộng đồng, Phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật tại cộng đồng dân cư­; phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo thường xuyên xây dựng mô hình Giáo dục thanh thiếu niên không vi phạm pháp luật đảm bảo an ninh trật tự ở trường học và mô hình Phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật trong học đường nhằm từng bước nâng cao nhận thức cho trẻ em và góp phần làm giảm tội phạm trên địa bàn.

- Công tác phòng, chống tai nạn, thương tích cho trẻ em:

+ Thực hiện Quyết định số 548/QĐ-BLĐTBXH ngày 06 tháng 5 năm 2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành tiêu chí “Ngôi nhà an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em”, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây dựng kế hoạch và triển khai 100% đến cơ sở, phấn đấu đến cuối năm 2017, xây dựng được 200 ngôi nhà đạt các tiêu chí Ngôi nhà an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em; tổ chức 53 điểm giữ trẻ trong mùa lũ, mỗi điểm trung bình từ 20 - 25 em do giáo viên các Trường mầm non, Mẫu giáo phụ trách.

+ Triển khai xây dựng Cộng đồng an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em: ngành Y tế triển khai Quyết định số 170/2006/QĐ-BYT ngày 17 tháng 01 năm 2006 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn xây dựng cộng đồng an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích; Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc xây dựng cộng đồng an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2017 - 2020; 100% các huyện, thị xã, thành phố tổ chức triển khai các mô hình an toàn tại cộng đồng, mục tiêu đến năm 2020 có 25% xã, phường, thị trấn được công nhận cộng đồng an toàn.

+ Việc triển khai xây dựng Trường học an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em: hàng năm, các trường đều có kế hoạch xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích và được kiểm tra, đánh giá vào cuối mỗi năm học; đến cuối năm 2016, toàn tỉnh 340/340 trường học đạt trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em.

+ Tổ chức được 06 lớp phổ cập bơi cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ (180 học sinh).

+ Công tác phòng, chống tai nạn giao thông đường bộ: thường xuyên tổ chức các hoạt động truyền thông phòng, chống tai nạn giao thông đường bộ, đặc biệt là các cơ sở giáo dục, trường học; 100% các cơ sở giáo dục và đào tạo lồng ghép các hoạt động tuyên truyền giáo dục về văn hóa giao thông vào các môn học giáo dục công dân, đạo đức, sinh hoạt dưới cờ, chủ nhiệm lớp, nói chuyện chuyên đề, phát thanh học đường…, nhằm nâng cao kiến thức, ý thức trách nhiệm và dần hình thành thế hệ công dân ứng xử có văn hóa khi tham gia giao thông; xây dựng và triển khai thực hiện tốt mô hình “Cổng trường an toàn giao thông” tại các trường mầm non, tiểu học, trung học sơ sở và trung học phổ thông.

b) Hoạt động giáo dục đào tạo:

- Ngành học mầm non và phổ thông trên toàn tỉnh có 340 trường, trong đó: mầm non, mẫu giáo: 85 trường (có 01 trường mầm non tư thục), với 28.927 trẻ; tiểu học: 170 trường (có 01 trường dạy trẻ khuyết tật), với 66.749 học sinh; THCS: 61 trường, với 37.610 học sinh và THPT: 24 trường, với 16.928 học sinh.

- Ngành giáo dục đã thực hiện tốt công tác tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân các cấp quán triệt mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch Phổ cập giáo dục tiểu học, Phổ cập giáo dục mầm non (PCGDTH, PCGDMN) đề ra trong năm 2017; phối hợp với các ngành chức năng có liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các gia đình cho trẻ em đi học đúng độ tuổi, chống bỏ học và hạn chế đến mức thấp nhất số học sinh lưu ban; tổ chức thực hiện cuộc vận động “Ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường”; đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, xây dựng tốt ý thức cộng đồng “Toàn dân chăm lo sự nghiệp giáo dục”; tích cực đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; khuyến khích, cổ vũ phong trào khuyến học, khuyến tài, tạo động lực cho học sinh tích cực học tập, giáo viên tích cực giảng dạy; các cấp, ngành, đoàn thể... ngoài việc đóng góp vật lực, tài lực, công tác xã hội hoá còn phối hợp nâng cao nhận thức của người dân trong việc cho con em đi học để nâng cao trình độ văn hoá, giảm dần tỷ lệ học sinh bỏ học; kết quả đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi được công nhận vào năm 2015, 76 xã có trường mầm non; việc huy động trẻ ra lớp thực hiện tốt, đạt 15%; năm học 2017 - 2018 đạt 17% (toàn quốc là 23%); chỉ tiêu huy động các bậc học, đạt vượt trên 100% do có trẻ theo cha mẹ di cư đến địa bàn tỉnh.

- Tỷ lệ học sinh bỏ học cuối năm 2016 - 2017: tiểu học là 0,2%, đến năm 2018 sẽ đạt mức độ 3 về phổ cập giáo dục tiểu học; THCS là 1,28%; THPT là 1,77%; các ngành, đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ trong việc không để trẻ vì nghèo lại bỏ học, vận động nguồn lực xã hội hóa đỡ đầu cho các trường học, với 291/340 trường; hỗ trợ sách vở, học bổng cho học sinh đầu năm học 2016 - 2017 trên 14 tỷ đồng.

- Vấn đề bạo lực học đường, an ninh trong trường học, an toàn vệ sinh thực phẩm: tổ chức các hoạt động tuyên truyền ngoại khóa, bảo đảm tốt thực hiện quyền trẻ em.

- Tình hình giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

           + Chỉ đạo các trường tiểu học xây dựng và quản lý tốt môi trường giáo dục dân chủ, an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường theo tinh thần Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ.

          + Đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt đang theo học tại các trường trên địa bàn: luôn được Tỉnh quan tâm, tạo điều kiện cho các em theo kịp các bạn cùng trang lứa và thực hiện tốt các chính sách dành cho các em. Hiện, Tỉnh có  01 Trường Dạy trẻ khuyết tật, với 44 em theo học, 02 Nhà nuôi trẻ mồ côi Hoa Mai Cần Thơ (Châu Thành A) và thành phố Vị Thanh, với trên 70 em theo học.

c) Hoạt động chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng cho trẻ em:

- Trong thời gian qua, nhiều hoạt động chăm sóc trẻ em được triển khai như: cấp giấy khai sinh, thẻ BHYT cho trẻ; tổ chức khám sàng lọc tim bẩm sinh cho trẻ; đưa trẻ đi vá sức môi, hở hàm ếch; 100% trẻ được tiêm chủng miễn dịch đầy đủ, đặc biệt là giảm tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng hàng năm.

- Duy trì được hoạt động của ô dinh dưỡng tại cộng đồng; toàn tỉnh hiện có 252 ô dinh dưỡng, trong đó, có 215 ô chính và phát triển từ ô chính thêm 37 ô phụ; hoạt động ô dinh dưỡng và Câu lạc bộ không có trẻ suy dinh dưỡng được duy trì thường xuyên; triển khai thực hiện “Ngày vi chất dinh dưỡng”, “Tuần lễ thế giới nuôi con bằng sữa mẹ”, “Tuần lễ Dinh dưỡng và Phát triển”.

          - Cuối năm 2016 đến tháng 3 năm 2017, ngành Y tế tiếp nhận Dự án
can thiệp khẩn cấp về dinh dưỡng cho bà mẹ có thai và phụ nữ có con còn bú và trẻ em < 5 tuổi trên địa bàn 5 huyện (huyện Vị Thủy, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A); đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ Dự án: có 16.697 đối tượng được bổ sung đa vi chất (trong 4 tháng); 13.062 trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được bổ sung đa vi chất (trong 3 tháng) và 1.441 trẻ dưới 5 tuổi được điều trị suy dinh dưỡng cấp tính nặng; theo dõi quá trình trẻ điều trị tại cộng đồng, theo dõi phụ nữ mang thai, phụ nữ có con còn bú và trẻ 6 - 23 tháng tuổi bổ sung đa vi chất.

- Hoạt động triển khai bổ sung Vitamin A và Chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em từ tỉnh đến cơ sở đều đạt theo thang điểm giám sát.

- Trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi: 7.177 em, chiếm 11,3%; trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD chiều cao/tuổi: 14.626 em, chiếm 22,9%.

- Đối với công tác giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên - thanh niên: hàng năm, ngành Y tế tổ chức các buổi nói chuyện về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên là học sinh trung học phổ thông và trung học cơ sở, trường cao đẳng cộng đồng và trung tâm dạy nghề tỉnh, mỗi năm khoảng 800 em.

- Đối với trẻ em khuyết tật, tàn tật luôn được quan tâm đặc biệt, hàng năm, Tỉnh chỉ đạo ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Hội Bảo trợ Người khuyết tật - Trẻ mồ côi - Bệnh nhân nghèo tỉnh và các cơ sở y tế trong và ngoài tỉnh tổ chức khám sàng lọc bệnh cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị bệnh tim, khuyết tật vận động, sức môi, hở hàm ếch và đưa các em đi phẫu thuật; từ đầu năm đến nay, đã vận động các doanh nghiệp, nhà hảo tâm hỗ trợ chi phí phẫu thuật tim cho 4 em với kinh phí trên 260 triệu đồng.

- Công tác cấp phát thẻ BHYT và khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh luôn được duy trì thường xuyên, từng cơ sở cũng đã thống kê cập nhật danh sách trẻ em dưới 6 tuổi đang thường trú tại địa phương để hạn chế thiếu sót; tính đến thời điểm hiện tại, tổng số thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi được cấp và còn hạn sử dụng là là 78.031 thẻ.

- Tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS luôn được thực hiện thường xuyên, liên tục; toàn tỉnh có 229 trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, 777 trẻ em khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, 7 trẻ em bị nhiễm HIV đang hưởng chính sách bảo trợ xã hội.

d) Hoạt động vui chơi, giải trí và thực hiện quyền tham gia của trẻ em:

- Trong những năm qua, các cấp, các ngành và địa phương luôn quan tâm đến công tác tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: tổ chức họp mặt Nụ cười xuân, Tháng hành động vì trẻ em, ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6, Tết Trung thu,...

- Hiện tại, Tỉnh có 02 điểm vui chơi, giải trí dành cho trẻ em cấp huyện (Nhà thiếu nhi thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy); các hoạt động vui chơi, giải trí dành cho trẻ em được duy trì thường xuyên ở địa phương thông qua việc lồng ghép trong các phong trào đoàn, đội, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức trong nhà trường, nhà văn hóa thông tin, các cụm dân cư.

 - Tổ chức 01 Diễn đàn trẻ em cấp tỉnh, 8 Diễn đàn trẻ em cấp huyện, 23 Diễn đàn trẻ em cấp xã, với trên 2.200 em tham dự; các ý kiến phản ánh của trẻ em đều được cấp có thẩm quyền lắng nghe và có hướng giải quyết.

3. Chế độ thông tin báo cáo và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu tại
địa phương

a) Thực hiện chế độ cập nhật số liệu, báo cáo thường xuyên và đột xuất theo yêu cầu, đầy đủ kịp thời từ  xã, phường, thị trấn đến huyện, tỉnh.

b) Đối với việc vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu tại địa phương: năm 2016, Tỉnh tổ chức điều tra, thu thập thông tin số liệu trẻ em và cập nhật lên phần mềm quản lý trẻ em ở 02 đơn vị: huyện Phụng Hiệp và thị xã Ngã Bảy; năm 2017, tiếp tục điều tra, thu thập thông tin số liệu trẻ em ở 06 đơn vị còn lại, hiện nay, tiến độ hoàn thành đạt trên 90% nhưng chưa cập nhật vào phần mềm được (do phần mềm đang được nâng cấp), dự kiến đến cuối năm, 100% đơn vị xã, phường, thị trấn cập nhật số liệu trẻ em vào phần mềm quản lý chung của Bộ.

4. Nguồn lực dành cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trẻ em

Nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ Chương trình mục tiêu bảo vệ trẻ em, nguồn địa phương phân bổ, các nguồn vận động xã hội hóa. Trong các hoạt động nhân Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì trẻ em, ngày toàn dân đưa trẻ đến trường, Tết Trung thu, Tỉnh đã vận động kinh phí hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo... được 14.521.804.000 đồng, trong đó, ngân sách địa phương là 6.888.785.000 đồng, nguồn vận động 7.633.019.000 đồng.

5. Công tác tổ chức cán bộ về đội ngũ làm công tác trẻ em từ tỉnh đến cơ sở

a) Tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền đổi mới, nâng cấp chất lượng công tác quản lý nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở; kiện toàn và phát triển mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp, hình thành mạng lưới bảo vệ trẻ em tại cộng đồng; xây dựng cơ chế cho việc kết hợp lồng ghép các nguồn lực xã hội cho công tác trẻ em,...

b) Chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại địa phương, bảo đảm đạt các tiêu chuẩn, kỹ năng; tổ chức tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em ở các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn.

c) Cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em hiện nay gồm:

- Cấp tỉnh: Phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới có 03 biên chế (trong đó: 01 Trưởng phòng; 01 Phó Trưởng phòng và 01 chuyên viên kiêm công tác Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh).

- Cấp huyện: mỗi đơn vị huyện, thị xã, thành phố đều bố trí 01 cán bộ phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

- Cấp xã: giao cho cán bộ thương binh và xã hội phụ trách.

- Các ấp, khu vực: cộng tác viên dân số kiêm nhiệm về lĩnh vực này.

6. Công tác phối hợp thực hiện và kiểm tra, giám sát ở địa phương:

a) Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và đoàn thể chính trị - xã hội trong hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có bước chủ động, phối hợp chặt chẽ hơn trong việc tạo môi trường giáo dục kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

b) Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát việc chấp hành các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em và thực hiện các quyền trẻ em được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm kịp thời chấn chỉnh những sai sót, tháo gỡ khó khăn, rút ra bài học kinh nghiệm; đồng thời, khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân đạt thành tích trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

7. Những thuận lợi, khó khăn:

a) Thuận lợi:

- Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn được sự quan tâm chỉ đạo phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và các đoàn thể chính trị xã hội từ tỉnh đến cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức cho gia đình, cộng đồng và các tầng lớp Nhân dân; từ đó, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước từng bước đi vào cuộc sống của Nhân dân, các quyền của trẻ em được quan tâm thực hiện khá toàn diện.

- Việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho trẻ em luôn được quan tâm, nội dung hoạt động tập trung theo từng chủ đề, thời gian và hình thức phong phú, bổ ích, lành mạnh phù hợp với lứa tuổi và điều kiện của trẻ em; nhiều hoạt động vui chơi, giải trí giúp các em phát triển tài năng, nhất là trẻ em có năng khiếu.

- Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tập trung vào những công việc trước mắt, đột xuất theo chuyên đề; đẩy mạnh công tác tuyên truyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bằng nhiều hình thức, quan tâm hỗ trợ, chăm lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.

b) Khó khăn, hạn chế:

- Một số nơi, cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nên trong chỉ đạo, điều hành còn mang tính chất mùa vụ, chưa thường xuyên, liên tục.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục, thông tin truyền thông vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa huy động được tất cả các thành phần trong xã hội tham gia vào công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

- Toàn bộ cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã đều là kiêm nhiệm, trình độ năng lực còn hạn chế, thường xuyên thay đổi, nên công tác quản lý, tuyên truyền vận động gặp rất nhiều khó khăn.

- Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, một bộ phận gia đình bận lo kiếm sống nên ít quan tâm đến con cái dẫn đến trẻ em bị xâm hại tình dục, bị tai nạn thương tích.

- Việc bố trí kinh phí từ ngân sách và vận động xã hội còn hạn chế nên việc thực hiện các chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em gặp nhiều khó khăn.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Cơ chế hoạt động và chính sách hỗ trợ: ban hành các văn bản thi hành luật, xây dựng các chương trình, kế hoạch hàng năm và giai đoạn, củng cố bộ máy tổ chức, bộ máy cộng tác viên, quan tâm phân bổ kinh phí, nguồn lực xã hội chăm lo cho trẻ em.

2. Tăng cường công tác quản lý, giám sát và theo dõi đối tượng trẻ em:

- Nắm vững thực trạng và số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại địa phương; lựa chọn các vấn đề nổi cộm, các đối tượng ưu tiên, tham mưu xây dựng kế hoạch, triển khai các hoạt động chăm sóc, giúp đỡ kịp thời nhằm giảm tối đa tình trạng trẻ em rơi vào trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hoàn cảnh khó khăn.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của gia đình, nhà trường và cộng đồng.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để kịp thời đề xuất và bổ sung chính sách, chế độ cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phối hợp các ngành chức năng xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm quyền trẻ em.

3. Các biện pháp, chính sách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động bảo vệ trẻ em:

a) Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội:

- Duy trì và nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân về ý nghĩa thực hiện chương trình hành động vì trẻ em và các mục tiêu có liên quan đến trẻ em, từ đó, lồng ghép vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

- Tăng cường truyền thông vận động bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hiệu quả về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đến các đoàn thể xã hội, nhà trường, cộng đồng dân cư và gia đình trẻ em cùng chung tay thực hiện.

- Phổ biến, nhân rộng các mô hình, điển hình về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên các lĩnh vực đến gia đình, các tổ dân phố, các ngành, đoàn thể; tổ chức các hoạt động học tập, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao chất lượng công tác này.

b) Củng cố tổ chức (bao gồm chính sách cán bộ) và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp và cộng tác viên các ấp, khu vực:

- Các cấp ủy, chính quyền tăng cường hơn nữa việc củng cố, kiện toàn bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em các cấp, đặc biệt là đội ngũ cộng tác viên về trẻ em; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ tỉnh đến cơ sở.

- Xây dựng và thực hiện chính sách đãi ngộ phù hợp với đội ngũ cán bộ, cộng tác viên, tình nguyện viên làm công tác trẻ em ở xã, phường, thị trấn, ấp, khu vực và cụm dân cư.

- Xây dựng mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em từ tỉnh đến cơ sở.

c) Chính sách trợ giúp các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

- Tăng cường nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực văn hóa - xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả các mục tiêu của Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2013 - 2020.

- Mở rộng và tăng cường vận động mạnh thường quân góp phần vào công tác chăm sóc trẻ em trên các lĩnh vực sức khỏe, học hành, vui chơi giải trí, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, huy động quỹ bảo trợ trẻ em để thực hiện tốt các mục tiêu vì trẻ em.

- Vận động sự tham gia của Nhân dân tổ chức các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn, khu vực, xóm ấp; hàng năm, tổ chức tốt Tháng hành động vì trẻ em, khai giảng năm học mới, Tết Nguyên đán, Quốc tế thiếu nhi 1/6, Trung Thu…phát động các cuộc vận động góp Quỹ bảo trợ trẻ em.

- Thực hiện kip thời chế độ chính sách bảo trợ xã hội đối với trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em khuyết tật…

- Tuyên truyền, vận động, thành lập các câu lạc bộ, các mô hình chăm sóc giáo dục trẻ em tại cộng đồng như mô hình câu lạc bộ ông bà cháu, CLB giáo dục trẻ em… nhằm giáo dục, ngăn chặn, hỗ trợ giúp đỡ trẻ em có nguy cơ.

- Hỗ trợ xây dựng điểm vui chơi, giải trí giành riêng cho trẻ em (có quản lý, khu vui chơi, khu học tập, thư viện, khu nghiên cứu, khu vẽ tranh, khu xây dựng bằng các mô hình,…), giúp trẻ em có thể phát triển trí tuệ, thể lực.

 

          IV. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

          1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật,
quy định chặt chẽ hơn nữa về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

          2. Xem xét, hỗ trợ kinh phí thù lao cho cộng tác viên, hoạt động truyền thông, khám sức khỏe cho trẻ em; kinh phí mua thuốc, sản phẩm dinh dưỡng hỗ trợ cho trẻ em suy dinh dưỡng, đặc biệt là trẻ em nghèo, cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số.

          3. Có chính sách ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình văn hóa vui chơi công cộng dành riêng cho trẻ em vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số ...

          4. Xem xét, hỗ trợ thêm kinh phí Chương trình mục tiêu bảo vệ trẻ em cho Hậu Giang.

          5. Đề nghị Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam quan tâm, hỗ trợ kinh phí
cho các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là đầu tư
xây dựng các điểm trường mầm non, lớp mẫu giáo cho trẻ em vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.

Trên đây là báo cáo tình hình thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn tỉnh năm 2017./.

 

 

Nơi nhận:                                          

- Bộ LĐTBXH;

- TT: HĐND, UBND tỉnh;

- Sở LĐTBXH;

  - Lưu: VT, KGVX. DM.

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

           Đồng Văn Thanh