</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 184/BC-UBND Hậu Giang, ngày 4 tháng 12 năm 2017

BÁO  CÁO

Tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ năm 2017 và mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện năm 2018

 
 

 

 


Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2017

 

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017 và Nghị quyết số 19/2016/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX kỳ họp thứ Tư; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 05/KH-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2017 về chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017 tỉnh Hậu Giang theo Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, với mục tiêu tổng quát của năm 2017 là Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bền vững, cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển đồng bộ công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng văn hóa, con người phát triển toàn diện; phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ phục vụ yêu cầu đổi mới hiện nay. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh; nâng cao chất lượng công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”.

Trong điều kiện tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 02/6/2017, Nghị quyết số 70/NQ-CP,  với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, UBND tỉnh đã chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, tổ chức thực hiện quyết liệt và đồng bộ các nhóm giải pháp đã đề ra, chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục    khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống Nhân dân.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG-AN NINH NĂM 2017

Năm 2017, Nghị quyết của HĐND tỉnh Hậu Giang thông qua 19 chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, ước cả năm thực hiện đạt và vượt 18/19 chỉ tiêu. Trong đó có 09 chỉ tiêu vượt kế hoạch là: tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thu nội địa, kim ngạch xuất nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng, số lao động được tạo việc làm, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ dân số được cấp nước hợp vệ sinh và nước sạch. Có 09 chỉ tiêu đạt kế hoạch là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, GRDP bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới, dân số trung bình, y tế, nhóm chỉ tiêu về viễn thông và nhà ở, xử lý thu gom chất thải, quốc phòng; còn một chỉ tiêu đạt 80%, do tai nạn giao thông tăng trên cả 3 tiêu chí, cụ thể:

a) Lĩnh vực kinh tế

 (1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 6,7%, trong đó, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp: 2,58%; khu vực công nghiệp - xây dựng: 11,29%; khu vực thương mại - dịch vụ: 7,39%. (Kế hoạch 6,7- 7,2%, trong đó, khu vực I: 2,1%, khu vực II: 10,78%, khu vực III: 8%).

(2) GRDP bình quân đầu người đạt 33,84 triệu đồng/người, tương đương 1.509 USD, tăng 5,55% so cùng kỳ (Kế hoạch 33,84 triệu đồng/người)

(3) Cơ cấu kinh tế giữa 3 khu vực I, II, III là: 30,9% - 22,48% - 46,61%    (Kế hoạch là; 30,9% - 22,1% - 47%, trong đó, khu vực I giảm 0,1% so cùng kỳ).

(4) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn theo giá hiện hành 16.650 tỷ đồng, tăng 7,14% so cùng kỳ. (Kế hoạch 16.400 tỷ đồng)

(5) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 7.418,553 tỷ đồng, tăng 4,21% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa là 2.890 tỷ đồng, tăng 16,35% so với cùng kỳ, vượt 4,33% kế hoạch (Kế hoạch 2.770 tỷ đồng). Tổng chi ngân sách địa phương là 6.818,925 tỷ đồng, bằng 98,62% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển là 2.551,276 tỷ đồng, tăng 21,42% so với cùng kỳ.

(6) Tổng kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ và nhập khẩu 1.050 triệu USD, tăng 39,5% Kế hoạch; vượt 50% kế hoạch. Trong đó kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 740 triệu USD, tăng 33,3% so cùng kỳ (Kế hoạch là 578 triệu USD); kim ngạch nhập khẩu  310  triệu USD, tăng 56,8% so cùng kỳ (Kế hoạch là 120 triệu USD).

(7) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân dưới 4,5% (KH <7%).

b) Lĩnh vực văn hóa - xã hội

(8) Dân số trung bình khoảng 774.070 người; tỷ lệ tăng dân số trung bình 2,2%o, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,76 %o.

(9) Tỷ lệ hộ nghèo dự kiến cuối năm 2017 còn 9,89%, biên độ giảm trong năm là 2,59% (Kế hoạch trên 2%).

(10) Số lao động được tạo việc làm là 17.500 lao động (Kế hoạch 15.000 lao động); tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 44%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 4,03%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn còn 1,55%.

(11) Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 55,29% tổng số trường (Kế hoạch 55-60%), số sinh viên trên 10.000 người dân là 169 sinh viên.

(12) Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 100%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 12,6%; số bác sĩ trên 10.000 người dân là 6,8 bác sĩ; số giường bệnh trên 10.000 người dân là 28,81 giường; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 78,87% (Kế hoạch là 78%); tuổi thọ trung bình 75 tuổi.

(13) Số thuê bao điện thoại/100 dân là 80 điện thoại; số thuê bao Internet băng thông rộng/100 dân đạt 06 thuê bao; diện tích nhà ở bình quân/người 21,7 m2.

 (14) Xây dựng công nhận mới 04 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã nông thôn mới lên 21/54 xã, đạt 38,88% tổng số xã, các xã còn lại đạt trên 10        tiêu chí. Công nhận mới 02  phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị.

c) Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững

(15) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 1,89% (Kế hoạch 1,88%)

(16) Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh 95,5% (Kế hoạch 95%); tỷ lệ dân số thành thị được cấp nước sạch 89% (Kế hoạch 88%).

(17) Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị 82% (Kế hoạch 82%); tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế đạt tiêu chuẩn 73,3% (Kế hoạch 73,3%); tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn 22,2% (Kế hoạch 22,2%).

d) Lĩnh vực quốc phòng - an ninh

(18) Xây dựng lực lượng quân sự, công an chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,74% dân số đúng theo quy định của Quân khu. Hoàn thành tốt công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ.

(19) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, công tác cải cách tư pháp được quan tâm, số vụ tội phạm giảm; tai nạn giao thông tăng so cùng kỳ.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRÊN CÁC LĨNH VỰC

1.     Tái cơ cấu nền kinh tế

Tăng trưởng khu vực I là 2,58% (do vụ lúa Thu Đông tăng sản lượng 23,63%, tăng diện tích 12,92% so với cùng kỳ), lĩnh vực công nghiệp tăng trưởng khá khoảng 12,04%, lĩnh vực dịch vụ phát triển ổn định và tăng 7,39%, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP cả năm ước đạt 6,7%, đạt Kế hoạch đề ra. Đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện, GRDP bình quân đầu người đạt 33,84 triệu đồng (1.509 USD), năm 2016 là 31,23 triệu đồng.

Trong khu vực I, ngành nông nghiệp tăng 3,1%, lâm nghiệp tăng 1,2 %, ngành thủy sản tăng 1,79%. Trong khu vực II, ngành công nghiệp tăng 12,04%, trong đó, công nghiệp chế biến tăng 13,1%. Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 8,41% (năm 2016 tăng 7,74%). Trong khu vực III, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 12,5% (cùng kỳ là 8,5%); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,8%.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch, so với năm trước tỷ trọng khu vực I giảm 0,1%, khu vực II tăng 2,3% và khu vực III giảm 2,41%; kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển. Trong cơ cấu kinh tế, kinh tế nhà nước đóng góp 14,88%, không tăng so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân đóng góp 81,21%, tăng 0,01% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 0,53%, tăng 0,01% so với cùng kỳ. Kinh tế hợp tác, hợp tác xã tiếp tục được củng cố, nâng chất, trong năm đã thành lập mới 15 HTX, giải thể 25 HTX, toàn tỉnh hiện có 181 HTX và 01 Liên hiệp HTX đang hoạt động, với 3.428 thành viên, 6.574 lao động; vốn Điều lệ trên 145 tỷ đồng.

Các địa phương đang triển khai tái cơ cấu nông nghiệp, Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao giai đoạn 2016 - 2020; Đề án phát triển trạm bơm điện ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và xây dựng cánh đồng lớn.

Công tác quản lý đầu tư công được thực hiện khá chặt chẽ; nhiều địa phương đã chủ động và tích cực xã hội hóa trong đầu tư.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp, tỉnh đã triển khai Kế hoạch thực hiện chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thành công ty          cổ phần giai đoạn 2017 - 2020.

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hậu Giang đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng hoạt động theo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ưu tiên vốn vay cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến và các mô hình sản xuất có hiệu quả, tạo điều kiện khá thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tiếp cận các nguồn vốn vay, nâng cao hiệu quả hoạt động, xử lý nợ xấu.

2. Nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2017 theo giá so sánh 2010 tăng 5,2% so với cùng kỳ (năm 2016 chỉ tăng 1,68%). Tăng trưởng khu vực nông - lâm - ngư nghiệp đạt 2,58% (Kế hoạch: 2,1%, cùng kỳ 0,86%).

Diện tích gieo trồng lúa cả năm 207.326 ha, vượt 2,04% kế hoạch, tăng 329 ha so cùng kỳ. Năng suất bình quân 6,19 tấn/ha. Sản lượng ước đạt 1.280.004 tấn, đạt 100,14% Kế hoạch, tăng 3,86% so cùng kỳ (bằng 13.878 tấn). Sản lượng lúa năm nay tăng chủ yếu là do tăng diện tích và tăng năng suất vụ Hè Thu và Thu Đông.

Cây mía năm 2017, trồng được 10.735 ha đạt 102,2% kế hoạch. Sản lượng cả năm ước đạt 1.055.251 tấn, đạt 102,2% kế hoạch, tăng 8% so với cùng kỳ (bằng 78.018 tấn).

Cây rau màu ước cả năm 20.399 ha, đạt 107,4% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ, sản lượng ước đạt 277.849 tấn, tăng 19,3% so với cùng kỳ (bằng 42.885 tấn).

Cây ăn trái, diện tích 39.803 ha đạt 116% kế hoạch, tăng 8,9% so cùng kỳ.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng so cùng kỳ, tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có: đàn heo 148.017 con đạt 98,7% kế hoạch, tăng 4,85% so cùng kỳ (bằng 6.844 con); đàn gia cầm 3.754.000 con đạt 89,5% kế hoạch; đàn trâu 1.497 con đạt 96,6% Kế hoạch; đàn bò 2.962 con đạt 118,5% kế hoạch, tăng 27% so cùng kỳ.

Tổng diện tích thả nuôi thủy sản ước năm 2017 là 7.025 ha (cá tra 103 ha) đạt 100,4% Kế hoạch, bằng 99,08% so cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 64.325 tấn, vượt 2,1% Kế hoạch, tăng 2,6% so cùng kỳ.

Công tác trồng rừng sản xuất và bảo vệ rừng tiếp tục được quan tâm,  thực hiện tốt kế hoạch tái cơ cấu lâm nghiệp năm 2017, nâng độ che phủ đạt 1,89% (rừng 1,41%; cây phân tán 0,48%); Chiến dịch Giao thông nông thôn - thủy lợi và trồng cây được các địa phương thực hiện vượt cao so với kế hoạch, trong đó đã trồng được 9.790 cây, đạt 213,3% chỉ tiêu giao; trồng 750.000 cây lâm nghiệp các loại, triển khai và nhân rộng các mô hình khuyến lâm có hiệu quả. Tổng kinh phí hiện được 423 tỷ đồng, trong đó, Nhân dân đóng góp 24%.

Tình hình xâm nhập mặn diễn biến nhẹ hơn năm 2016, với nồng độ mặn thấp, độ mặn cao nhất là 4,2‰, thấp hơn 7,4‰ so năm 2016. Tình hình sạt lở bờ sông, mưa, dông lốc diễn ra khá nghiêm trọng, có 26 điểm sạt lở, chiều dài 579m, ước tổng thiệt hại 3,68 tỷ đồng. Nhà sập 91 căn, tốc mái 157 căn, ước thiệt hại 2.734 triệu đồng. Tổng thiệt hại từ đầu năm đến nay là 6,41 tỷ đồng (năm 2016 là 26 tỷ đồng).

Tỉnh đã công nhận 04 xã nông thôn mới, đến nay, đã có 21 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 38,8% tổng số xã), các xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí.

Đề án Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai. Đề án giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao đang lập các dự án đầu tư. Đề án phát triển trạm bơm điện đang triển khai thi công 10 trạm bơm điện, dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng cuối năm 2017 và lập dự án đầu tư xây dựng 05 trạm bơm điện.

Ban quản lý Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang đã tiếp và làm việc trên 26 doanh nghiệp trong và ngoài nước, đến Hậu Giang đã ký bản ghi nhớ về phát triển nông nghiệp công nghệ cao với Viện Kỹ thuật nông nghiệp Jeona-Gwanju, Hàn Quốc, làm tiền đề ứng dụng khoa học công nghệ cao vào nông nghiệp.

Kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại trong nông nghiệp được quan tâm chỉ đạo theo Đề án nâng cao chất lượng hoạt động hợp tác xã trên địa bàn tỉnh. Hiện tại trong lĩnh vực nông nghiệp có 133 HTX nông nghiệp (tăng 04 HTX so với cuối năm 2016) 23 trang trại (tăng 01 trang trại so với năm 2016)

3. Công nghiệp ­- xây dựng, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh

a) Sản xuất công nghiệp ­

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển khá, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 tăng 21,8% so cùng kỳ. Nhìn chung, đa số các doanh nghiệp phát triển tương đối đều, ổn định. Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như: sản xuất giày dép; sản xuất hóa chất, sản xuất thuốc, hóa dược liệu… đầu tư mở rộng nhà máy, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm nên làm tăng giá trị sản xuất của các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung. UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,4 % so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,7% (cùng kỳ 8%); điều này cho thấy năng lực sản xuất công nghiệp tăng nhanh hơn cùng kỳ năm trước. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tiếp tục tăng: sản lượng thủy sản        đông lạnh tăng 7,6%, gạo xay xát tăng 51,5%, đường mật tăng 10,7%, bánh kẹo tăng 21,5%...

Ngành điện tiếp tục nâng cấp mở rộng lưới điện, nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng điện toàn tỉnh đạt 99,58%, tăng 0,03% so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ sử dụng điện an toàn 98,46%, tăng 0,12% so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch. 

Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút thêm được 04 dự án đầu tư, cao hơn 02 dự án so với cùng kỳ, lũy kế đến nay đã thu hút được 76 d án đầu tư, hiện có 65 d án đi vào hoạt động, tăng 26 dự án so với cùng kỳ, tổng diện tích là 1.183 ha, tỷ lệ đất lấp đầy 54%.

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh 2010 tăng 13,6% so cùng kỳ (năm 2016 tăng 3,8%). Các chương trình về nhà ở cũng đang được tiếp tục triển khai. Diện tích nhà ở bình quân trên địa bàn tỉnh đạt 21,7 m2/người, tăng 1,7 m2 so với cùng kỳ. Công tác rà soát quy hoạch xây dựng được các chủ đầu tư và địa phương quan tâm thực hiện, đã điều chỉnh 10 đồ án với tổng diện tích 7.643 ha. Công tác phát triển đô thị được quan tâm, đến nay thành phố Vị Thanh đã đạt 2/5 tiêu chí đô thị loại II, đô thị thị xã Long Mỹ đạt 3/5 tiêu chí đô thị loại III.

b) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và xây dựng cơ bản

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huy động được 16.650 tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ. Trong đó vốn ngân sách nhà nước 2.057 tỷ đồng.

Kế hoạch đầu tư công năm 2017, giao đầu năm tổng số 1.287 tỷ đồng, đến nay là 2.057 tỷ đồng (tăng 770 tỷ đồng). Trong đó, kế hoạch vốn phân bổ để thực hiện dự án là 1.755 tỷ đồng (tỉnh quản lý chiếm 61%, huyện quản lý chiếm 39%). Ước giá trị giải ngân đạt 95% kế hoạch.

c) Về cải thiện môi trường đầu tư

Môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện. Hậu Giang sau một năm thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ bước đầu cũng đạt được nhiều kết quả phấn khởi cho doanh nghiệp. Trong năm, toàn tỉnh có 800 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký là 2.700 tỷ đồng, tăng 5% số doanh nghiệp và tăng 1,5 lần về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; lũy kế, từ trước đến nay, đã cấp 4.670 doanh nghiệp, tổng vốn trên 46.000 tỷ đồng, số doanh nghiệp đang hoạt động khoảng trên 2.000 doanh nghiệp. Trong năm số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp; số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngưng hoạt động 62 doanh nghiệp. Tổng số hộ hộ kinh doanh cá thể toàn tỉnh trên 41.000 cơ sở. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn.

Về cấp Giấy chứng nhận đầu tư, trong năm đã cấp 05 giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký 504 tỷ đồng (cùng kỳ là 15 dự án, tổng vốn 1.169 tỷ đồng); lũy kế từ trước đến nay, trên địa bàn tỉnh 490 dự án đầu tư, với tổng số vốn là 123.412 tỷ đồng.

Năm 2016, chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của tỉnh xếp vị trí thứ 37/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, so với năm 2015 giảm 01 bậc, năm 2015 xếp thứ 36/63 tỉnh, nhưng vẫn còn nằm trong nhóm hạng khá, đứng vị trí 8/13 của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tăng 01 bậc so với năm 2015.

UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 50/KH-UBND “Kế hoạch Khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh      Hậu Giang và ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,     nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hậu Giang.

Ban hành 03 Kế hoạch hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Chương trình hành động số của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và 5 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh; thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN); phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư của tỉnh năm 2017, với chủ đề “Hậu Giang - Tiềm năng đầu tư và phát triển”, đã trao chủ trương đầu tư cho 05 dự án với tổng số vốn là 1.944 tỷ đồng, ký kết biên bản hợp tác với Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Deagu-Gyeongbuk Hàn Quốc, ký biên bản ghi nhớ hợp tác giữa tỉnh Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Sóc Trăng; ký kết biên bản ghi nhớ thỏa thuận đầu tư giữa tỉnh Hậu Giang với Công ty TNHH MTV Phongsubthavy xây dựng Cầu đường, Hạ tầng và thủy lợiTập đoàn Jinko Solar (Việt Nam), với tổng số vốn là 82.168 tỷ đồng; đã tổ chức 03 Đoàn công tác của tỉnh ký kết hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp với một số doanh nghiệp tại Hàn Quốc.

d) Về thu hút nguồn vốn FDI, ODA và NGO

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong năm cấp mới 02 giấy chứng nhận đầu tư, với tổng mức đầu tư 918.000 USD; nâng tổng số có 29 dự án FDI với tổng vốn gần 809 triệu USD; trong đó, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là 16 doanh nghiệp với tổng vốn 643 triệu USD và 13 doanh nghiệp liên doanh với tổng vốn 166 triệu USD; lũy kế giải ngân từ trước đến nay giải ngân 485 triệu USD đạt 60% tổng vốn đăng ký, bao gồm các nhà đầu tư đến từ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó nhà đầu tư Trung Quốc (Hồng Kông) có tỉ trọng vốn đầu tư cao nhất, với 5 dự án, tổng vốn đầu tư 630 triệu USD, chiếm trên 77% tổng vốn FDI của tỉnh.

Triển khai thực hiện 08 chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, dự kiến sẽ có 6 dự án hoàn thành trong năm 2017, riêng Dự án nâng cấp và đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vị Thanh đang được khởi động triển khai từ nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng Thế giới, với tổng mức đầu tư trên 814 tỷ đồng.

Công tác vận động quản lý viện trợ phi chính phủ nước ngoài (NGO) ngày càng phát huy hiệu quả,  đã tiếp nhận 13 chương trình, dự án, có tổng vốn viện trợ 21,3 tỷ đồng (năm 2016 tiếp nhận 9 chương trình, dự án, có tổng vốn viện trợ 12,5 tỷ đồng).

4. Thương mại - dịch vụ, xuất nhập khẩu

Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ theo giá so sánh 2010 tăng 6,6% so cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,64% so cùng kỳ. Các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, đã giới thiệu doanh nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh tham gia quảng bá, trưng bày sản phẩm tại các Hội chợ trong và ngoài tỉnh, tổ chức nhiều Hội chợ hàng quảng bá sản phẩm. Công tác quản lý thị trường được tăng cường, chỉ số giá bình quân năm 2017 tăng 4,5% so với cùng kỳ (cùng kỳ 3%).

Dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách tiếp tục phát triển, chất lượng phục vụ từng bước được nâng lên, đã vận chuyển được 9,7 triệu tấn hàng hóa, tăng 7,2% so cùng kỳ và 113 triệu lượt hành khách, tăng 6% so cùng kỳ. Các dịch vụ khác như bưu chính - viễn thông, ngân hàng, quảng cáo, bảo hiểm, y tế, logistic... đều có bước phát triển.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trực tiếp, ủy thác và dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.050 triệu USD, tăng 39,5% so với cùng kỳ và vượt 50% so với Kế hoạch. Trong đó: xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ được 740 triệu USD, tăng 33,3% so cùng kỳ, vượt 28% Kế hoạch. Nhập khẩu ước thực hiện được 310 triệu USD, tăng 56,8% so cùng kỳ, vượt 158% Kế hoạch.

5. Tài chính, ngân hàng

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 7.418,553 tỷ đồng, ng 4,21% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa là 2.890 tỷ đồng, tăng 16,35% so với cùng kỳ, vượt 4,33% Kế hoạch (Kế hoạch là 2.770 tỷ đồng). Tổng chi ngân sách địa phương là 6.818,925 tỷ đồng, bằng 98,62% so với cùng kỳ, trong đó: chi đầu tư phát triển là 2.551,276 tỷ đồng, tăng 21,42% so với cùng kỳ.

Ngành ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nông dân trong tỉnh tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất và thời hạn hợp lý, hỗ trợ thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án trọng điểm của Chính phủ và địa phương. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 10.255 tỷ đồng, tăng 21,06% so với cuối năm 2016. Vốn huy động trên địa bàn đáp ứng được 49,9% hoạt động tín dụng. Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 20.539 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cuối năm 2016. Trong thời gian vừa qua các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã thực hiện tốt công tác kiểm soát nợ xấu, duy trì nợ xấu ở mức thấp, tương đối ổn định, đến nay nợ xấu còn dưới 3% (năm 2016 1,62%).

6. Chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Việc thực hiện đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh, truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là công tác giám sát và xử lý môi trường tại các điểm có nguy cơ xảy ra dịch được quan tâm, từ đó trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch lớn. Trong năm 2017, số cas sốt xuất huyếtbệnh tay - chân - miệng, tuy có tăng so với cùng kỳ nhưng không có trường hợp tử vong.

Các chỉ tiêu về y tế đều đạt kế hoạch, như mức giảm sinh 0,1%o; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 12,6%; có 6,8 bác sĩ trên một vạn dân; 28,82 giường bệnh trên một vạn dân; tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ 100%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,76%0; tỷ lệ trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế 100 %; tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 78,87%.

7. Giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ

Năm học 2017 - 2018, toàn tỉnh huy động được 158.235 học sinh đến trường, đạt kế hoạch đề ra. Hậu Giang có 5.150 thí sinh đăng ký dự kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, tăng 545 thí sinh so với năm 2016. Tỷ lệ tốt nghiệp đạt 96,6%, tăng 10,34% so với cùng kỳ, trong đó hệ giáo dục phổ thông đạt tỷ lệ 99,54% tăng 5,96% so với cùng kỳ, hệ giáo dục thường xuyên đạt tỷ lệ 63,71%, tăng 20,16% so với cùng kỳ.

Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo, mặc dù rất khó khăn về nguồn kinh phí đầu tư, nhưng tỉnh đã nỗ lực huy động nhiều nguồn vốn lồng ghép, đến nay đã có 188/340 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 55,29% tổng số trường, tăng 18 trường so với cùng kỳ. Công tác nâng cao chất lượng giáo dục được tập trung chỉ đạo; số lượng học sinh yếu, kém và bỏ học giảm so với năm học trước; tỷ lệ học sinh, khá giỏi và kết quả các kỳ thi đã được nâng lên. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, THPT thực hiện đúng Kế hoạch và đạt tỷ lệ cao hơn so cùng kỳ.

Về khoa học và công nghệ (KH&CN), các nhiệm vụ KH&CN được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ. Đã tổ chức Hội đồng KH&CN xét duyệt 18 và nghiệm thu 13 đề tài, dự án; đã chuyển giao kết quả nghiên cứu của 14 đề tài, dự án về các sở, ban, ngành tỉnh tiếp nhận triển khai ứng dụng vào thực tế. Một số mô hình được triển khai ứng dụng vào thực tế có hiệu quả như: mô hình sử dụng chế phẩm sinh học nấm xanh để quản lý dịch hại trên lúa; mô hình trồng chuối cấy mô sạch bệnh; mô hình nâng cao năng suất, chất lượng và rải vụ xoài cát Hòa Lộc đạt tiêu chuẩn VietGAP… đã thực hiện lưu giữ và bảo tồn nguồn gen 02 loại nông sản của tỉnh như: Quýt đường Long Trị; Khóm Queen Cầu Đúc. Trung tâm Thông tin và Ứng dụng khoa học công nghệ tỉnh đã triển khai 02 dự án cấp huyện.

 Công tác quản lý về sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ thực hiện đúng quy định; thường xuyên thực hiện tốt công tác sở hữu trí tuệ, thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và quyền sở hữu trí tuệ. Triển khai tốt Hội thi Sáng tạo kỹ thuật, Tin học trẻ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Hậu Giang.

8. Văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông

Các sở ngành và địa phương đã tập trung chỉ đạo tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương như: đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Đinh Dậu 2017; kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; ngày Quốc tế phụ nữ 8/3; kỷ niệm Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, kỷ niệm 42 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tuyên truyền các hoạt động Xúc tiến đầu tư Hậu Giang năm 2017; chào mừng năm APEC Việt Nam 2017...

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trong đó, chú trọng việc nhân rộng các mô hình và cách làm hay nhằm củng cố, nâng chất các danh hiệu văn hóa. Phong trào xây dựng xã văn hóa nông thôn mới và phường, thị trấn văn minh đô thị được tập trung thực hiện, đến nay toàn tỉnh đã có 25 xã văn hóa nông thôn mới, tăng 13 xã so cùng kỳ và 12 phường, thị trấn văn minh đô thị, tăng 2 phường so cùng kỳ.

Các hoạt động văn hóa văn nghệ, hội thi, hội diễn được tổ chức, hoàn thành việc tổ chức Đại hội Thể dục thể thao cấp huyện và cấp xã; ban hành Chương trình về bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2017 - 2020. Về thể thao thành tích cao đã tham gia 43 giải, đoạt 61 huy chương các loại, đã tổ chức thành công 12 giải cấp tỉnh và tham dự nhiều giải khu vực.     

Trong năm lượng du khách đến Hậu Giang tăng khá, do tổ chức được nhiều lễ hội và sự kiện, đã thu hút gần 332.000 lượt khách, tăng 41% so cùng kỳ, trong đó, khách quốc tế gần 11.000 lượt, khách nội địa 321.000 lượt, doanh thu đạt trên 121 tỷ đồng, tăng 72% so cùng kỳ. Xây dựng kế hoạch quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hậu Giang từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025. Xây dựng kế hoạch hợp tác, liên kết phát triển du lịch giữa Hậu Giang và thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến 2020.

Bưu chính viễn thông của tỉnh tiếp tục phát triển, quản lý chặt chẽ công tác báo chí, xuất bản, phát thanh - truyền hình, thông tin đối ngoại. Toàn tỉnh đạt mật độ 80 thuê bao điện thoại/100 dân; số thuê bao internet đạt 6 thuê bao/100 dân. Bưu chính viễn thông của tỉnh tiếp tục phát triển, quản lý chặt chẽ công tác báo chí, xuất bản, phát thanh - truyền hình, thông tin đối ngoại. Hỗ trợ lắp đặt đầu thu truyền hình số mặt đất đợt 2 cho 2.124 hộ nghèo, cận nghèo đạt 60% Kế hoạch.

9. Đảm bảo an sinh xã hội, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

a) Về đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội

Năm 2017, toàn tỉnh đã tạo và giải quyết việc làm mới cho 17.500 lao động, đạt 116,67% Kế hoạch, trong đó đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 75 lao động, đạt 107,14% kế hoạch. Cơ cấu lao động tiếp tục được chuyển dịch, giảm dần tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 57,10% (giảm 2,1% so năm trước), tăng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng lên 16%; thương mại và dịch vụ lên 27%.

Đào tạo nghề cho 6.573 lao động, đạt 101,1% kế hoạch, trong đó đào tạo trung cấp, cao đẳng là 719 người; đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 3.315 người; đào tạo nghề từ các chương trình, dự án khác là 2.539 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%, đạt 106% kế hoạch.

Các địa phương triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo, theo kết quả sơ bộ công tác điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,48% xuống còn 9,89%, biên độ giảm trong kỳ là 2,59%, đạt 128,9% kế hoạch.

Các chế độ, chính sách ưu đãi đối với gia đình chính sách, người có công được tổ chức thực hiện kịp thời, đúng đối tượng và hiệu quả, đã tiếp nhận mới 2.591 hồ sơ các loại, xét giải quyết 2.513 hồ sơ.

Công tác dân tộc được chăm lo; công tác phát triển thanh niên, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ về vật chất và tinh thần của các cơ quan chức năng từ tỉnh đến cơ sở cũng như của toàn xã hội. Công tác chăm sóc người cao tuổi, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ được chú trọng.

Các Hội xã hội và Trung tâm Công tác xã hội tỉnh duy trì hoạt động thiết thực và hiệu quả. Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động; an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội tại được tiến hành định kỳ tại các doanh nghiệp, công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Công tác bảo trợ xã hội được quan tâm, trợ cấp xã hội thường xuyên cho 335.224 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền hơn 121 tỷ đồng. Thực hiện hỗ trợ mai táng phí, trợ cấp đột xuất, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng Bảo trợ xã hội.

b) Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu

Tỉnh đã triển khai thực hiện các dự án, đề án phục vụ thiết thực cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn tỉnh 99,87%, tình trạng tranh chấp đất đai giảm so cùng kỳ.

Các chương trình, dự án về xử lý rác thải được quan tâm trong cộng đồng, các địa phương đã triển khai nhân rộng mô hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trong xây dựng xã nông thôn mới. Nhiều chỉ tiêu quan trọng về môi trường đạt kết quả tích cực và tăng so cùng kỳ.

Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường được thực hiện thường xuyên, nhất là nguồn nước, đã tổ chức giám sát và báo cáo kết quả giám sát việc vận hành thử nghiệm công trình bảo vệ môi trường của dự án “Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam tại Cụm CNTT Phú Hữu A, thị trấn Mái Dầm, Châu Thành (hiện nay đã đi vào hoạt động chính thức). Đang khảo sát các vị trí lắp đặt các trạm quan trắc tự động liên tục (3 trạm nước và 01 trạm không khí).

Tỉnh đã đề xuất 41 dự án phục vụ về môi trường và biến đổi khí hậu; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn tỉnh đạt tỷ lệ 99,87% diện tích phải cấp. Các chương trình, dự án về xử lý rác thải được quan tâm trong cộng đồng, các địa phương đã triển khai nhân rộng mô hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trong xây dựng xã nông thôn mới. Các chỉ tiêu quan trọng về môi trường đạt kết quả tích cực và tăng so với cùng kỳ.

10. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng

Các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật được các cơ quan chức năng tiến hành thường xuyên, gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và công tác hòa giải cơ sở, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và Nhân dân. Hiệu quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ngày càng được nâng cao do việc tăng cường đầu tư trang thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Công tác thanh tra hành chính thực hiện 52 cuộc trên các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài chính ngân sách, mua sắm trang thiết bị, công tác đấu thầu, xây dựng cơ bản, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư... Đến nay, đã kết thúc thanh tra 45 cuộc. Qua thanh tra phát hiện vi phạm với tổng số tiền trên 5,6 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 3,5 tỷ đồng, kiến nghị khác 2,1 tỷ đồng, kiến nghị xử lý hành chính 06 tổ chức và 72 cá nhân, đã thu hồi 2,3 tỷ đồng.

Về thanh tra chuyên ngành, các sở, ngành tỉnh đã tiến hành thực hiện được 1.604 cuộc trên các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài chính, thông tin và truyền thông, xây dựng, tư pháp, công thương, giao thông vận tải. Đã kết thúc 1.604 cuộc, qua công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành phát hiện 465 trường hợp vi phạm và ra quyết định xử phạt 444 trường hợp. Các đơn vị đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính các tổ chức, cá nhân vi phạm với số tiền trên 1,8  tỷ đồng (đạt tỷ lệ 100%).

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố cáo, bảo đảm công khai, dân chủ, làm rõ nội dung vụ việc, xem xét đầy đủ các khía cạnh pháp lý và thực tế của vụ việc để có biện pháp giải quyết dứt điểm; báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của người có thẩm quyền và các cơ quan chức năng cấp trên về những vấn đề vướng mắc, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Trong năm, các ngành, các cấp trong tỉnh đã tiếp 2.853 lượt với 3.494 người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tăng 267 lượt so với cùng kỳ. Cấp tỉnh tiếp thường xuyên 965 lượt với 1.323 người; lãnh đạo tiếp định kỳ, đột xuất 134 lượt với 325 người. Cấp huyện tiếp thường xuyên 1.472 lượt với 1.472 người, lãnh đạo tiếp định kỳ và đột xuất 281 lượt với 374 người.

Tổng số đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền các ngành, các cấp trong tỉnh là 560 đơn, tăng 04 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 539/560 đơn (đạt tỷ lệ 96%). Cấp tỉnh đã giải quyết 230/245 (đạt 93%), cấp huyện đã giải quyết 309/315 (đạt 98%). Tổng số đơn tố cáo thuộc thẩm quyền là 14 đơn, giảm 13 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 14/14 đơn (đạt tỷ lệ 100%). Tổng số đơn phản ánh toàn tỉnh là 78 đơn, tăng 20 đơn so với cùng kỳ, đã giải quyết 68/78 đơn (đạt tỷ lệ 87%).

Các cấp, các ngành trong tỉnh đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định pháp luật. Thực hiện tốt công tác triển khai, quán triệt, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng, xây dựng chương trình hành động phòng, chống tham nhũng. Thực hiện các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng, hướng vào những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng. Công tác kê khai tài sản, thu nhập bước đầu đã phát huy được hiệu quả trong công tác phòng ngừa và chống tham nhũng. Qua thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo, trong năm 2017 trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện hành vi tham nhũng.

11. Xây dựng chính quyền

Để xây dựng chính quyền theo hướng giảm đầu mối, tinh gọn bộ máy hành chính, trong năm đã chuyển Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Hậu Giang từ trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; sáp nhập Trường Trung cấp nghề Ngã Bảy vào Trường Trung cấp nghề tỉnh Hậu Giang và đổi tên thành Trường Trung cấp Kỹ thuật - Công nghệ tỉnh Hậu Giang; xin chủ trương thành lập Trung tâm xúc tiến kinh tế tỉnh Hậu Giang; tổ chức lại các Chi cục trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; thành lập Trung tâm Phát triển Cụm công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp thành phố Vị Thanh; phối hợp thành lập Chi cục Hải quan Hậu Giang; thành lập Ban Công tác người cao tuổi cấp huyện; ban hành Đề án thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh Hậu Giang.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm, tỉnh đã cử cán bộ, công chức tham dự lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp sở năm 2017; tổ chức khai giảng 02 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước (QLNN) ngạch chuyên viên, 01 lớp ngạch chuyên viên chính năm 2017, cử đi đào tạo sau đại học 76 trường hợp. Giải quyết thu hút nhân lực 92 trường hợp. Tổ chức công tác xét tuyển và thi tuyển viên chức đúng qui định. Tổ chức mở lớp tập huấn công tác cải cách hành chính năm 2017 và tập huấn Kỹ năng hành chính trong thực hiện cơ chế một cửa liên thông năm 2017.

12. Hoạt động đối ngoại

Trong năm, tỉnh đã tích cực triển khai công tác đối ngoại, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của các cơ quan Trung ương, công tác đối ngoại được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, tuân thủ nghiêm đường lối đối ngoại của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổ chức được các chuyến xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản và Hàn Quốc, tham gia các sự kiện xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch trong vùng và cả nước, đã ký kết chương trình hợp tác kinh tế - xã hội với tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng và một số doanh nghiệp lớn trong nước. Tiếp và làm việc với nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài, để đẩy mạnh thu hút vốn FDI và NGO.

13. Quốc phòng - an ninh

Tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo; lực lượng Công an, Quân sự phối hợp nắm chặt tình hình, bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm, đặc biệt là Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, các Đoàn công tác của Trung ương đến thăm và làm việc tại tỉnh, diễn đàn APEC 2017; hoàn thành công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017, đạt 100% chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, trong đó, đảng viên, chiếm 1,33%; tổ chức đón rước 360 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về địa phương; tổ chức cho 5.069 thanh niên tuổi 17 đăng ký nghĩa vụ quân sự, đạt 99,98%; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 1,74% dân số (tăng 0,04% so cùng kỳ); huấn luyện chiến sĩ mới; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện 2017 đạt yêu cầu.

Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm được tăng cường, phát hiện 214 vụ tội phạm về trật tự xã hội, giảm 13,4% so với cùng kỳ, nhiều loại tội phạm đã được kéo giảm như: trộm cắp tài sản giảm 23,5%, cố ý gây thương tích giảm 13,6%; cướp tài sản giảm 45,5%, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giảm 62,5%. Mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, triệt phá nhiều vụ tệ nạn xã hội.

Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực an toàn giao thông được quan tâm, kịp thời sửa chữa, dặm vá, phát quang cây xanh che khuất tầm nhìn; từng bước khắc phục tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè, dốc cầu để kinh doanh mua bán, tạo đường thông, hè thoáng, mỹ quan đô thị, tạo điều kiện cho người và phương tiện tham gia giao thông được thông suốt và an toàn

Công tác tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhưng tình hình tai nạn giao thông còn diễn biến rất phức tạp, xảy ra 102 vụ, làm chết 66 người, bị thương 49 người, so với cùng kỳ số vụ tăng 56% (tăng 37 vụ), số người chết tăng 34% (tăng 17 người), số người bị thương tăng 53% (tăng 17 người). Nguyên nhân do: ý thức của người tham gia giao thông, chất lượng của một số công trình chưa đảm bảo, hệ thống biển báo ở một số nút giao thông chưa phù hợp (trên địa bàn thị xã Ngã Bảy), chất lượng hệ thống giao thông nông thôn, không đủ lực lượng, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác tuần tra kiểm soát...

Xảy ra 03 vụ cháy (01 cháy chợ, 02 cháy nhà dân), giảm 01 vụ so với cùng kỳ, làm chết 03 người, bị thương 03 người, thiệt hại tài sản khoảng 1,1 tỷ đồng.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, sự đồng hành các doanh nghiệp và sự đồng thuận của Nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng.

Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2017 có 9 chỉ tiêu vượt kế hoạch, 9 chỉ tiêu đạt kế hoạch. Tăng trưởng kinh tế ước đạt mục tiêu đề ra 6,7%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Tăng trưởng khu vực I vượt kế hoạch, các mô hình sản xuất hiệu quả có bước phát triển, lúa chất lượng cao chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu giống, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện theo kế hoạch, công tác bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm và đạt những kết quả tốt. Khu vực II vượt kế hoạch; giá trị xuất khẩu, nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ; công tác xúc tiến đầu tư và đối thoại doanh nghiệp có chuyển biến, phát triển doanh nghiệp tiếp tục tăng khá, đầu tư công tiếp tục được tái cơ cấu, nợ đọng xây dựng cơ bản được xử lý theo kế hoạch. Khu vực III gần đạt kế hoạch, hoạt động du lịch có dấu hiệu khởi sắc, các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục... đạt những kết quả tốt. Việc ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện chính quyền điện tử có tiến bộ; công tác cải cách hành chính và đấu tranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng. An ninh chính trị và trật tự xã hội được bảo đảm, số vụ tội phạm giảm so với cùng kỳ...

Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn một số vấn đề tồn tại và khó khăn đáng chú ý là: việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn yếu, thiếu nguồn lực xây dựng nông thôn mới; chuyển dịch cơ cấu trong khu vực I còn chậm; chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện nhiều,việc ứng dụng chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất còn yếu, thiếu vốn đầu tư cho khoa học - công nghệ; sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhỏ còn thấp; chưa có cơ chế đột phá trong thu hút đầu tư. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hạn chế. Việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và doanh nghiệp được quan tâm nhưng đôi lúc còn chậm. Thu cân đối ngân sách địa phương chưa đáp ứng nhu cầu chi; một số công trình, dự án do nhà nước và doanh nghiệp đầu tư còn chậm tiến độ, do thiếu vốn và vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Thiên tai diễn biến phức tạp, nguồn lực đầu tư để ứng phó còn hạn chế. Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân có bước tiến bộ nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất là ở tuyến cơ sở trang thiết bị chẩn đoán và điều trị hiện đại còn ít, một số công trình đưa vào sử dụng nhanh xuống cấp,... bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp. Việc giải quyết các thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, tinh thần, thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao. Số đơn thư khiếu nại tăng so cùng kỳ, tai nạn giao thông tăng trên 3 tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương)...

 

Phần hai

MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2018

Năm 2018, bên cạnh những điều kiện thuận lợi do kinh tế trong nước đang tăng trưởng khá ổn định, nhưng do diễn biến phức tạp của tình hình chính trị thế giới và khu vực, sự phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro của kinh tế thế giới, đã và đang là những thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Trong tỉnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, thiên tai, dịch bệnh diễn biến nghiêm trọng, khó lường. Nhu cầu đầu tư cho phát triển, nhất là kết cấu hạ tầng, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn, nhưng nguồn lực của tỉnh còn rất hạn hẹp, là những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và đời sống của Nhân dân.

I. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Mục tiêu

“Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phát triển kinh tế theo chiều sâu; khai thác tốt tiềm năng; tăng cường công tác đối ngoại; đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội; bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng - an ninh, kỷ luật, kỷ cương; phòng chống tham nhũng, lãng phí”.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2018

a) Lĩnh vực kinh tế

(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP tăng 6,8 - 7,2%, trong đó, khu vực I tăng 2,2%, khu vực II tăng 11%, khu vực III tăng 7,8%.

(2) GRDP bình quân đầu người đạt 36,75 triệu đồng/người, tương đương 1.633 USD, tăng 8,2% % so cùng kỳ.

(3) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I từ 30,9% còn 29,89%, tăng tỷ trọng khu vực II từ 22,48% lên 23,41% và khu vực III từ 46,61% lên 46,7%.

(4) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn theo giá hiện hành 17.565 tỷ đồng, tăng 5,5% so cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP chiếm 61,6%.

 (5) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6.433,397 tỷ đồng, bằng 86,72% so cùng kỳ, trong đó: thu nội địa 2.735 tỷ đồng, bằng 94,64% so cùng kỳ. Tổng chi 6.076,697 tỷ đồng, bằng 89,12% so  cùng kỳ, trong đó, chi đầu tư phát triển 2.351,401 tỷ đồng, bằng 93,63% so cùng kỳ.

(6) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ của các tổ chức tín dụng là 1.060 triệu USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 790 triệu USD, tăng 6,7% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu 270 triệu USD, bằng 87,1% so cùng kỳ.

(7) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân dưới 7% (không vượt quá bình quân cả nước).

b) Lĩnh vực văn hóa - xã hội

(8) Dân số trung bình khoảng 775.632 người; tỷ lệ tăng dân số trung bình 2,2%o, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,5 %o .

(9) Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 2%/năm.

(10) Số lao động được tạo việc làm là 15.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 3,5%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn còn 1,5%.

(11) Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 60 - 65% tổng số trường, số sinh viên trên 10.000 người dân là 172 sinh viên.

(12) Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế 100%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 12,3%; số bác sĩ trên 10.000 người dân là 7,3 bác sĩ; số giường bệnh trên 10.000 người dân là 29,27 giường; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 82,5%, tuổi thọ trung bình 75 tuổi.

(13) Số thuê bao điện thoại/100 dân là 80 điện thoại; số thuê bao Internet băng thông rộng/100 dân đạt 6,2 thuê bao; diện tích nhà ở bình quân/người 22-23 m2.

 (14) Xây dựng công nhận mới 04 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã nông thôn mới lên 25/54 xã, đạt 46,29% tổng số xã, các xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí. Công nhận mới 02 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị.

c) Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững

(15) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 1,92%.

(16) Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh 96%; tỷ lệ dân số thành thị được cấp nước sạch 91%.

(17) Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị 83%; tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế đạt tiêu chuẩn 80%; tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn 33,3%.

d) Lĩnh vực quốc phòng - an ninh

(18) Xây dựng lực lượng quân sự, công an chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt đúng theo quy định của Quân khu. Hoàn thành tốt công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ.

(19) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm; kéo giảm tai nạn giao thông 5-10%.

II. DỰ KIẾN MỘT SỐ CÂN ĐỐI LỚN TRONG KẾ HOẠCH NĂM 2018

1.     Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên dự kiến là khoảng 594.000 người, trong đó lao động thành thị chiếm 25%, lao động nông thôn chiếm 75%. Số lao động dự kiến đang làm việc là 448.000 người. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp dự kiến là 57%; công nghiệp và xây dựng là 16%; dịch vụ là 27%. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị khoảng 3,5% (20.790 người). Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn khoảng 1,5% (8.910 người).

2. Về khả năng cân đối ngân sách

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6.433,397 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa 2.735 tỷ đồng. Tổng chi 6.076,697 tỷ đồng, trong đó: chi đầu tư phát triển 2.351,401 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ chính quyền địa phương trên tổng chi còn 4,72%. Năm 2018 tỷ lệ thu nội địa ngân sách địa phương được hưởng/chi ngân sách địa phương vẫn còn mất cân đối, do đó tiếp tục được bổ sung từ ngân sách Trung ương.

3. Dự báo huy động vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn năm 2018

Khả năng huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2018 khoảng 17.565 tỷ đồng, tăng 5,5% so với năm 2017, dự kiến huy động các nguồn vốn sau:

(1) Các nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý khoảng 2.765 tỷ đồng, tăng 19% so cùng kỳ, chiếm 15,74% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

(2) Vốn Trung ương đầu tư trên địa bàn 600 tỷ đồng, tương đương so cùng kỳ, chiếm 3,41% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

(3) Vốn đầu tư của doanh nghiệp và dân cư 13.075 tỷ đồng, tăng 5,5% so cùng kỳ, chiếm 74,43% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

(4) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1.125 tỷ đồng (khoảng 50 triệu USD), tăng 11,1% so cùng kỳ, chiếm 6,42% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế

Triển khai thực hiện Chương trình số 05/CTr-UBND ngày 30/5/2017 của UBND tỉnh về tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; tập trung chủ yếu vào tái cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; đầu tư công; tích cực vận dụng các cơ chế, chính sách để huy động mạnh các nguồn vốn thuộc mọi thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển.

Tập trung vào tái cơ cấu nông nghiệp, tiếp tục thực hiện Đề án 1000 và các đề án lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp; nâng cao hoạt động kinh tế hộ cá thể, kinh tế tập thể và các Công ty cổ phần có vốn nhà nước; củng cố, nâng chất hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; thực hiện có hiệu quả Đề án nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã đến năm 2020; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng, kéo giảm nợ xấu xuống mức cho phép; tiếp tục tập trung nguồn vốn cho vay các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án trọng điểm của tỉnh.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế phát triển nhanh và ổn định, chú trọng tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực của tỉnh có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trong các khu, cụm công nghiệp triển khai đầu tư các dự án đã đăng ký, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa  vào hoạt động.

Triển khai Kế hoạch hành động của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Chương trình số 115-CTr/TU, Chương trình số 116-CTr/TU, Chương trình số 117-CTr/TU, ngày 06/9/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 10, 11 và 12 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII và Nghị quyết số 97/NQ-CP, Nghị quyết số 98/NQ-CP, Nghị quyết số 99/NQ-CP của Chính phủ.

Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 đi vào chiều sâu, trong đó, tập trung vốn cho các công trình kết cấu hạ tầng, các dự án cấp thiết, sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng để phát huy hiệu quả. Đẩy mạnh thu hút và giải ngân các nguồn vốn FDI, ODA và NGO; nâng cao chất lượng quy hoạch.

Tiếp tục tập trung nguồn vốn cho vay các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án trọng điểm của tỉnh; đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các công trình, dự án kinh tế có hiệu quả, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo chuyển biến trong cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

2. Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Tập trung chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt, đúng tiến độ các Chương trình, đề án, dự án trọng điểm về nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn mặn, như: Nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 - 2016,  định hướng đến năm 2020; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh; Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; Đề án phát triển Trạm bơm điện tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; hoàn thiện các chuỗi giá trị 10 sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh (như: lúa, mía, bưởi, cam sành, khóm, xoài, quít, chanh không hạt, cá thát lác, cá rô đồng). Tổ chức lại sản xuất theo tổ hợp tác, Hợp tác xã kiểu mới.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Nhân dân. Phấn đấu giá trị sản xuất (GO) theo giá so sánh 2010 tăng 3% so với cùng kỳ, tăng trưởng GRDP khu vực I đạt 2,2%, tỷ trọng khu vực I giảm còn còn 29,89% trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh; thu nhập của người dân ở nông thôn đạt từ 27 - 30 triệu đồng/năm. Những chỉ tiêu chủ yếu gồm:

- Cây lúa: Diện tích gieo trồng 205.000 ha (trong đó Đông Xuân 77.500 ha, Hè Thu 77.500 ha, Thu Đông 50.000 ha).  Năng suất 6,4 tấn/ha, sản lượng ổn định 1,2 triệu tấn. Cây mía: Tiếp tục chuyển đổi diện tích mía kém hiệu quả sang cây trồng khác kết hợp chuyển đổi giống có năng suất, chất lượng, chữ đường cao,... diện tích 10.500 ha, năng suất 105 tấn/ha, sản lượng trên 1,1 triệu tấn. Cây ăn quả: Diện tích 38.000 ha, trong đó: Cây có múi 18.000 ha, khóm 2.000 ha, cây ăn quả khác 18.000, sản lượng 375,850 tấn (tăng 42% so cùng kỳ). Rau màu các loại: Diện tích 21.000 ha, sản lượng 268.000 tấn.

- Tổng đàn heo 150.000 con; gia cầm, thủy cầm 4.300.000 con; đàn trâu 1.650 con; đàn bò 3.000 con. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 39.000 tấn (tăng 5,4% so cùng kỳ).

- Diện tích nuôi thủy sản 7.095 ha, trong đó: Diện tích nuôi cá ao 3.305 ha; nuôi cá ruộng 3.790 ha. Tổng sản lượng 70.400 tấn (tăng 13% so cùng kỳ), trong đó sản lượng nuôi 67.700 tấn; khai thác 2.700 tấn.

- Thực hiện quản lý 4.0712 ha đất lâm nghiệp, có rừng 2.930 ha, trong đó: rừng trồng tập trung 2.150 ha; rừng trồng phân tán 700 ha. Tổ chức trồng 32 ha rừng sản xuất và 700.000 cây phân tán. Tỷ lệ độ che phủ rừng 1,92% tăng 0,03% so với năm 2017.

Về quy hoạch và quản lý quy hoạch: Hoàn thiện việc rà soát, điều chỉnh các quy hoạch giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030, gồm các quy hoạch còn lại: Quy hoạch bố trí dân cư, Quy hoạch sử dụng đất của Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, Quy hoạch thủy sản,… đối với các huyện, thị xã, thành phố rà soát điều chỉnh quy hoạch ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tiếp tục chọn lựa một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh để xây dựng đề án, dự án thực hiện và triển khai thực hiện quy hoạch đúng quy định hiện hành.

Về tổ chức sản xuất theo cánh đồng lớn: Tiếp tục kêu gọi đầu tư theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, trên các lĩnh vực: Vùng lúa chất lượng cao, vùng nguyên liệu mía, cây ăn quả, màu. Tổ chức triển khai tốt đề án phát triển kinh tế Hợp tác xã, Quyết định số 445/QĐ-TTg  ngày 21/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Thí Điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 - 2020”.

Về chuyển giao khoa học kỹ thuật cho dân: Lồng ghép các chương trình, đề án đã được tỉnh phê duyệt, trong đó tập trung triển khai có hiệu quả các Chương trình, đề án, dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, để tập huấn, chuyển giao khoa học công nghệ cho dân nhằm đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn.Tổng kết các mô hình sản xuất có hiệu quả, để bổ sung, hoàn thiện, nhân rộng trong dân.Tiếp tục nhận chuyển giao các đề tài để khảo nghiệm, nhân rộng mô hình làm ăn có hiệu quả.

Về an toàn, vệ sinh nông sản: tăng cường thanh tra về vật tư nông nghiệp (thuốc BVTV), an toàn vệ sinh thực phẩm cho nông sản chủ yếu “đảm bảo bữa cơm an toàn” cho Nhân dân. Rà soát các quy định của Trung ương để cụ thể hóa các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển theo hướng GAP, chuỗi sản xuất khép kín theo hướng an toàn vệ sinh nông sản, bảo vệ môi trường.

Về chính sách đầu tư: Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn theo chính sách thu hút đầu tư của Chính phủ và của tỉnh.

Tiếp tục phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong thiết kế, xây dựng và quản lý, khai thác công trình thủy lợi,...

Huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của các thành phần kinh tế đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị ở cơ sở để xây dựng nông thôn mới, phấn đấu công nhận mới 04 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã nông thôn mới lên 25/54 xã, đạt 46,29% tổng số xã; hoàn thiện và nâng chất 21 xã đã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới; các xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí.

3. Phát triển công nghiệp - xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

a) Về công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 tăng 7,5% so năm trước. Khuyến khích tạo điều kiện tái cơ cấu doanh nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về khuyến công, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt thu hút đầu tư vào ngành sản phẩm công nghiệp có lợi thế của địa phương, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh.

b) Về lĩnh vực xây dựng

Tiếp tục tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ ODA để đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị thị xã Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ. Triển khai Dự án mở rộng nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vị Thanh từ nguồn vốn hỗ trợ của WB. Triển khai Chương trình phát triển nhà ở xã hội.

Nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị - nông thôn; tiếp tục hoàn thành việc tổ chức lập các danh mục quy hoạch chuyển tiếp từ năm 2017 sang năm 2018. Tiếp tục tổ chức rà soát, điều chỉnh các danh mục quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Triển khai chương trình phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 -2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục xây dựng, nâng chất các tiêu chí đô thị thành phố Vị Thanh, thị xã Long Mỹ đảm bảo đến năm 2020 đạt tiêu chuẩn đô thị loại II và loại III. Rà soát, xây dựng, nâng chất các tiêu chí đô thị cho 4 đô thị dự kiến công nhận đô thị loại V.

Triển khai Chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016-2020.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cho các tổ chức, cá nhân, giám sát, kiểm tra và thực hiện; đồng thời tăng cường quản lý hoạt động xây dựng, chất lượng công trình xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan và mỹ quan đô thị; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển đô thị, nhà ở và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng.    

c) Về đầu tư công

Chủ động triển khai đúng lộ trình của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, tăng cường quản lý đầu tư theo Luật Đầu tư công và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ các kế hoạch điều chỉnh, bổ sung vốn. Chủ động xã hội hóa và kêu gọi thu hút các nguồn vốn đầu tư để giảm gánh nặng đầu tư cho ngân sách nhà nước. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020. Triển khai kế hoạch đầu tư công năm 2018. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư công, vốn FDI, vốn ODA, vốn NGO và huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế.

d) Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

Tổ chức triển khai quyết liệt hơn, cụ thể hơn về thực hiện Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP của Chính phủ; Chương trình của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ.

Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; thành lập Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo thêm các điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thường xuyên theo dõi tình hình phát triển doanh nghiệp, thực hiện chủ trương xem doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát triển; tổ chức đối thoại công khai định kỳ với cộng đồng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, hướng đến mục tiêu có trên 800 doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2018.

4. Phát triển thương mại, dịch vụ và xuất khẩu

Phát triển nâng chất hệ thống chợ, kêu gọi đầu tư xây dựng các chợ đầu mối về hàng tiêu dùng, hàng nông sản của tỉnh, phát triển mạng lưới dịch vụ ở nông thôn, có kế hoạch triển khai hệ thống thương mại điện tử.

Tiếp tục triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; đẩy mạnh liên kết vùng, khu vực để tìm đầu ra cho nông sản hàng hóa của tỉnh; triển khai các Chương trình xúc tiến thương mại, bình ổn thị trường, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nâng cao chất lượng hàng hóa và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Chủ động tích cực hội nhập kinh tế theo vùng và hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến các doanh nghiệp về các tổ chức kinh tế lớn như ASEM, APEC, WTO và hiệp định thương mại tự do FTA.

Chủ động theo dõi diễn biến giá cả thị trường, tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 09/NQ -TU của Tỉnh ủy về phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và Kế hoạch số 100/KH-UBND ngày 26/11/2014 của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết 09/NQ-TU về phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 và Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Tham gia quảng bá, nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch xúc tiến, kết nối du lịch trong khu vực và cả nước.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, hỗ trợ để cải thiện, nâng chất các loại hình dịch vụ như vận tải, logistic, y tế, giáo dục, viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, quảng cáo, thương mại... tạo sức bật năng động của khu vực dịch vụ.

Theo dõi, nắm tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp và chủ trương điều hành xuất khẩu của Bộ Công Thương, để có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đẩy mạnh xuất khẩu. Phối hợp với Bộ Công Thương cung cấp các thông tin về lộ trình hội nhập, cắt giảm thuế quan, rào cản kỹ thuật thương mại và các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp sản xuất hàng xuất khẩu có thể xảy ra ở các thị trường trọng điểm đối với hàng hóa xuất khẩu của tỉnh. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu, đẩy mạnh các biện pháp sản xuất liên kết theo chuỗi trong phát triển thủy sản, đặc biệt đối với cá tra, basa; từng bước hoàn chỉnh quy hoạch vùng nuôi, nâng cao chất lượng con giống và môi trường nuôi đảm bảo hiệu quả kinh tế và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

5. Quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, phát huy hệ thống tín dụng

Thực hiện định mức dự toán cho kỳ ổn định ngân sách 2017 - 2020; giao dự toán ngân sách năm 2018 cho các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp cấp tỉnh. Triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý thuế gắn với cải cách thủ tục hành chính thuế; thường xuyên kiểm tra, giám sát kê khai thuế, nộp thuế điện tử; theo dõi chặt chẽ tiến độ thu ngân sách, đánh giá, phân tích từng nguồn thu, địa bàn thu, đảm bảo thu sát đúng với thực tế phát sinh, xác định cụ thể các nguồn thu còn tiềm năng, các lĩnh vực, loại thuế còn thất thu để kịp thời đề ra các giải pháp quản lý thu có hiệu quả; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, nợ đọng tiền thuế, hạn chế thấp nhất nợ mới phát sinh làm gia tăng thêm nợ thuế; kịp thời triển khai cho doanh nghiệp các chính sách thuế mới và giải đáp vướng mắc, khó khăn cho người nộp thuế; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tiến độ các dự án có thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trên địa bàn.

Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách địa phương, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả. Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công. Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động trong dân, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng; tăng cường công tác quản lý khoản vay, đẩy mạnh xử lý, thu hồi nợ xấu; tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng với khách hàng, chủ động nghiên cứu, xây dựng các chương trình cho vay với lãi suất hợp lý, thực hiện tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; đổi mới quy trình cho vay, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nhanh nhất nguồn vốn tín dụng. Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng phục vụ kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo, cho vay tạm trữ lúa gạo, giảm tổn thất sau thu hoạch đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm, cá tra, cho vay nhà ở xã hội…; tiếp tục đóng góp tích cực cho công tác an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa,phát triển giáo dục, y tế, cải thiện diện mạo nông thôn, góp phần giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, …

Tiếp tục thực hiện các bước thoái vốn nhà nước tại các Công ty có vốn nhà nước; sớm thực hiện chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công sang Công ty cổ phần.

6. Phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ theo quy định tại Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày  09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020. Phát triển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao; hiện đại hóa và kết hợp chặt chẽ giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, giữa phòng bệnh và chữa bệnh.

 Củng cố và nâng cao hiệu quả mạng lưới y tế cơ sở, chú trọng công tác y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe. Tập trung, ưu tiên đầu tư để tạo bước chuyển biến toàn diện về tổ chức, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ chế hoạt động của y tế cơ sở, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu; phát triển đội ngũ bác sỹ gia đình và lồng ghép mô hình bác sỹ gia đình vào y tế tuyến cơ sở. Chủ động phòng, chống các dịch, bệnh, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, không để dịch bệnh lớn xảy ra; từng bước kiểm soát các yếu tố có hại đến sức khỏe liên quan đến môi trường, an toàn thực phẩm, lối sống và hành vi của người dân.

 Đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, dân số - KHHGĐ, duy trì mức sinh thấp hợp lý, khống chế tốc độ tăng nhanh tỷ số giới tính khi sinh, giảm dị tật và bệnh bẩm sinh, đáp ứng đủ nhu cầu dịch vụ KHHGĐ của người dân; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKSS có chất lượng.

 Phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ y tế,  Phát triển cơ sở hạ tầng y tế; phát triển y tế ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ cho người nghèo các đối tượng chính sách trong khám, chữa bệnh. Đổi mới mô hình tổ chức, quản lý an toàn thực phẩm, dược, vắc-xin, sinh phẩm và trang thiết bị y tế.

Tiếp tục đổi mới toàn diện thái độ, phong cách phục vụ của cán bộ y tế, thực hiện tốt quy tắc ứng xử và nâng cao đạo đức nghề nghiệp...lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ, hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

Phát triển hệ thống thông tin y tế, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe. Nâng cao kiến thức và thay đổi hành vi của người dân trong việc chủ động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của bản thân và cộng đồng, phát triển BHYT toàn dân.

Tăng cường quản lý nhà nước về công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh thực phẩm. Kiểm soát chặt chẽ và xử lý nghiêm, ngăn chặn hiệu quả tình trạng hàng giả, hàng lậu, hàng hóa không bảo đảm chất lượng về an toàn vệ sinh thực phẩm.

7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ

Tiếp tục quán triệt và triển khai Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 18/7/2014 của UBND tỉnh về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

Tập trung triển khai đề án trường đạt chuẩn quốc gia tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020 và Kế hoạch xây dựng trường học đạt tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Phấn đấu năm 2018, tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia từ 60-65% (204 - 220/340 trường).    

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, bậc học. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục, phát huy hiệu quả phần mềm quản lý giáo dục của ngành. Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, kết quả xóa mù chữ; tăng cường công tác phân luồng, tư vấn hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp trong trường phổ thông. Tiếp tục xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu đào tạo nhân lực của ngành và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Nghiên cứu, đề xuất thêm các chủ trương, giải pháp và cơ chế đột phá để thực hiện tốt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; sử dụng có hiệu quả kinh phí đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng; tiếp tục ưu tiên cho ngành y tế, giáo dục và nông nghiệp; tích cực tranh thủ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài của Trung ương để cử cán bộ tham gia; tiếp tục quan tâm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức... học tập, nâng cao trình độ.

Tích cực chuẩn bị những cơ hội do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại. Nhân rộng các mô hình, dự án khoa học công nghệ, chú trọng vào nông nghiệp, góp phần giảm chi phí đầu vào, tăng hàm lượng khoa học công nghệ, trí tuệ trong sản phẩm và hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích từ nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ nông sản với các hình thức hợp tác, liên kết phù hợp. Tiếp tục chuyển giao kết quả các đề tài để khảo nghiệm, nhân rộng các mô hình làm ăn có hiệu quả.

8. Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông

Tiếp tục củng cố, nâng chất và phát triển các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã văn hóa nông thôn mới và phường, thị trấn văn minh đô thị. Chú trọng và nâng cao chất lượng các chương trình nghệ thuật, tác phẩm, sản phẩm văn hóa nghệ thuật.

Tăng cường công tác xã hội hóa trong lĩnh vực hoạt động TDTT, vận động toàn xã hội từng bước xây dựng cơ sở vật chất, tập luyện, thi đấu TDTT, tổ chức quản lý khai thác có hiệu quả những cơ sở hiện có, đáp ứng nhu cầu tập luyện và thi đấu cho Nhân dân, tiếp tục đào tạo vận động viên năng khiếu, nâng cao chất lượng các đội tuyển, tổ chức Đại hội TDTT tỉnh Hậu Giang lần thứ VIII năm 2018....

Tiếp tục triển khai để đưa Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 10/6/2014 của Tỉnh ủy Hậu Giang về phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đi vào cuộc sống. Triển khai Kế hoạch quảng bá, xúc tiến du lịch năm 2018; Đề án phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ du lịch năm 2018 theo Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020. Hoàn chỉnh Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch và tăng cường giao lưu hợp tác về văn hóa đến 2020 và định hướng đến 2025”; Đề án “Hoạt động dịch vụ thu hút khách tham quan phát huy giá trị di tích Chiến thắng Chương Thiện, giai đoạn 2016 - 2020” trên địa bàn thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Tích cực tuyên truyền vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình, ngăn chặn không để xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, bạo hành trẻ em. Tiếp tục triển khai Đề án “Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2010 - 2020” bằng nhiều kênh tuyên truyền, giáo dục.

Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản, phát thanh truyền hình, thông tin điện tử và thông tin đối ngoại đúng theo quy định. Nâng cấp hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan nhà nước.

Cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công phục vụ người dân và doanh nghiệp trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Tuyên truyền việc xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Hậu Giang cho người dân và doanh nghiệp; lồng ghép với các chương trình, dự án để tập huấn, đào tạo dần công dân điện tử.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản, in, phát hành tại các nhà sách, điểm bán sách; các hoạt động mua bán, in ấn văn hóa phẩm trên địa bàn tỉnh; các cơ sở, đại lý kinh doanh dịch vụ Internet công cộng.

9. Đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội và “Đền ơn - đáp nghĩa”. Tiếp tục giải quyết các loại hồ sơ người có công bảo đảm chính xác, đầy đủ và minh bạch về chế độ thụ hưởng. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, huy động tổng hợp các nguồn lực để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng.

Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm - An toàn lao động. Thực hiện đồng bộ các chính sách, giải pháp tạo thêm việc làm mới, duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, như Nhật, Hàn Quốc, Malaysia.  Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là đào tạo nghề gắn với việc làm. Xây dựng kế hoạch cập nhật và xử lý thông tin cung, cầu lao động.

Tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao tỷ lệ dân số tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Tập trung thực hiện có hiệu quả các chính sách giảm nghèo. Huy động các nguồn lực để hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở xuống cấp và công trình vệ sinh, đảm bảo cho hộ nghèo có nhà ở theo tiêu chuẩn; hỗ trợ ưu đãi về tín dụng, gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, kinh nghiệm và xây dựng nhân rộng mô hình giảm nghèo; hỗ trợ về y tế, giáo dục, trợ giúp pháp lý...

Tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ, giải quyết nhà ở cho các nhóm đối tượng gặp khó khăn về nhà ở, hoàn thành Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở.

Tạo cơ chế phù hợp và khuyến khích các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, gia đình, cộng đồng, người dân và các đối tượng yếu thế tham gia và cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc cho người khuyết tật, người cao tuổi, đối tượng bảo trợ xã hội.

Đẩy mạnh xã hội hoá và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác bảo vệ môi trường, triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án nước sạch, trạm xử lý nước thải, nhất là tại các khu công nghiệp, khu dân cư, các dự án thoát nước và xử lý nước thải đô thị. Kiểm tra, rà soát các khu vực, cơ sở bức xúc về môi trường để có kế hoạch cải tạo, khắc phục, xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường.

Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các đê, kè, tổ chức khảo sát, thăm dò địa chất ở những điểm đã xảy ra sạt lở và có nguy cơ sạt lở để cảnh báo và bố trí lại dân cư, triển khai thực hiện các giải pháp công trình và phi công trình ứng phó phù hợp, bền vững lâu dài với sạt lở đất, hạn hán và xâm nhập mặn....

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai và các văn bản có liên quan nhằm nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thực hiện kịp thời những thủ tục liên quan đến đất đai của các dự án đầu tư.

10. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước

Tiếp tục đơn giản hóa, giảm thủ tục hành chính, hoàn thành các nhiệm vụ cải cách hành chính để đạt được mục tiêu đề ra năm 2018, cải thiện chỉ số  cải cách hành chính (PAR INDEX), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI); tập trung giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo; tổ chức tốt công tác đối thoại; góp phần giữ vững ổn định chính trị và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Phấn đấu giải quyết đạt từ 90% trở lên số đơn thuộc thẩm quyền; chú trọng việc tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật.

Tiếp tục thực hiện và tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 29/8/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc chấn chỉnh đạo đức, tác phong và lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên; Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 08/11/2013 của UBND tỉnh về việc tiếp tục chấn chỉnh đạo đức, tác phong và lề lối làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Chỉ thị 05-CT/TU ngày 10/12/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hậu Giang về việc nâng cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện đạo đức, tác phong; xây dựng lề lồi làm việc khoa học, hiệu quả; công khai, dân chủ.

Triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các chủ trương, chính sách, các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí; xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tập trung chỉ đạo và xử lý nghiêm, đúng pháp luật các hành vi tham nhũng, lãng phí; những hành vi lợi dụng chống tham nhũng để vu khống, tố cáo sai sự thật, đồng thời, tích cực điều tra làm rõ các phản ánh, tố cáo của Nhân dân, kịp thời khen thưởng người có tố cáo đúng và có biện pháp bảo vệ những người tố cáo.

Xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện chấn chỉnh, xử lý kịp thời các thiếu sót, vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội và việc chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ chức, cá nhân, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo và những bức xúc của Nhân dân.

Tiếp tục thực hiện biên chế công chức và biên chế viên chức tỉnh Hậu Giang năm 2018 theo Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của của HĐND tỉnh về thực hiện biên chế viên chức năm 2017, khi có Quyết định của Trung ương phân bổ biên chế năm 2018 cho tỉnh, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh theo quy định.

11. Mở rộng quan hệ đối ngoại và liên kết vùng

Duy trì, phát huy quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hậu Giang với các tỉnh, thành phố trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học Cần Thơ và các Viện trường, đặc biệt là phát triển quan hệ hữu nghị với 2 huyện và một số tổ chức kinh tế của Hàn Quốc.

12. Đảm bảo quốc phòng, an ninh

Xây dựng củng cố thế trận an ninh Nhân dân và nền quốc phòng toàn dân vững chắc, thường xuyên vận hành cơ chế hoạt động tạo tiềm lực để tập trung sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.

Tăng cường công tác xây dựng lực lượng vũ trang trong sạch, vững mạnh, từng bước xây dựng hoàn chỉnh cơ quan Công an, Quân sự cấp huyện, cấp xã;  tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho lực lượng vũ trang, chủ động xử lý các tình huống, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, gắn kết phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh.

Tiếp tục tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống, hướng mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tiếp tục chủ động tấn công, trấp áp các loại tội phạm, kiềm chế, kéo giảm tội phạm, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, nhất là các loại tội phạm gây bức xúc trong Nhân dân.

Trên đây là Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ năm 2017 và mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện năm 2018 tỉnh Hậu Giang./.

 

                                                

Nơi nhận:

- Văn phòng Chính phủ;

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

- Lưu VT,TH, PT.

Tinh hinh thuc hien NQ so 01  năm 2017

     

      TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

   KT. CHỦ TỊCH

   PHÓ CHỦ TỊCH

     

 

            

 

 

            Đồng Văn Thanh