</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 152/BC-UBND Hậu Giang, ngày 6 tháng 11 năm 2017

BÁO CÁO

Thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng năm 2017

trên địa bàn tỉnh Hậu Giang

 
 

 

 


Thực hiện Kế hoạch số 25/KH-HĐTĐKT ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng năm 2017; Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang báo cáo kết quả việc thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng năm 2017 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, cụ thể như sau:

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai Luật Thi đua, Khen thưởng

Trong những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh Hậu Giang đã đi vào nề nếp có nhiều đổi mới trong cách tổ chức các phong trào thi đua, về nội dung và hình thức; triển khai thực hiện các phong trào có bài bản, có tiêu chí, nội dung rõ ràng, cụ thể. Phong trào thi đua yêu nước đã được tổ chức sâu rộng, có sức lan tỏa trong toàn tỉnh. Đạt được những kết quả như vậy chính là nhờ sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai các văn bản của Bộ Chính trị, Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết thi hành, như sau:

- Chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, UBND tỉnh Hậu Giang tham mưu Tỉnh ủy Hậu Giang ban hành Chỉ thị số 46-CT/TU ngày 09/12/2014 về việc thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Kế hoạch số 108/KH-UBND ngày 22/12/2014 về thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng;

- Chỉ thị số 18-CT/TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Hậu Giang ban hành Kế hoạch số 101/KH-UBND ngày 28/10/2016 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và Kế hoạch 05 năm (2016 - 2020) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; phổ biến các nội dung Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ đến toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng thông qua các lớp tập huấn, hội nghị sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua của đơn vị, địa phương.

2. Việc tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện chính sách khen thưởng

2.1. Triển khai tổ chức các phong trào thi đua yêu nước

Các phong trào thi đua của Thủ tướng Chính phủ và Trung ương phát động đều được triển khai sâu rộng đến tầng lớp Nhân dân, người lao động, góp phần khơi dậy tinh thần thi đua và tạo động lực thúc đẩy các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh như: phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 50/KH-UBND ngày 08 tháng 5 năm 2017 về khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2020 định hướng đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, trong đó xây dựng và tạo lập môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp bằng những chính sách, công cụ hỗ trợ đầu tư kinh doanh; hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản, trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới, góp phần tạo việc làm, tăng năng suất lao động, đóng góp vào quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của tỉnh; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về kế hoạch khởi nghiệp của tỉnh, xây dựng chuyên trang, chuyên mục về khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trên trang thông tin điện tử của Sở Kế hoạch và Đầu tư, thường xuyên cập nhật thông tin, những chính sách mới về khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp để các cá nhân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin, cơ hội kinh doanh, phát triển ý tưởng kinh doanh; hàng năm tổ chức các buổi tọa đàm, tổ chức đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho doanh nghiệp khởi nghiệp; các chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ thành lập doanh nghiệp, về tài chính, thuế, về thông tin, môi trường pháp lý kinh doanh, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, mặt bằng; hiểu được ý nghĩa, vai trò của hoạt động khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các cấp ủy Đảng đã tập trung chỉ đạo, nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị.

Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” UBND tỉnh xây dựng Đề án số 02/ĐA-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2016 về giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh ban hành Kế hoạch số 03/KH.BCĐ ngày 06 tháng 3 năm 2017 về triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 nhằm tập trung huy động các nguồn lực xã hội, hỗ trợ tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin, giao thông đi lại, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, đặc biệt là phải có việc làm và thu nhập ổn định, từng bước cải thiện đời sống, tăng thu nhập; thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh năm 2017.

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020 đã đạt được một số kết quả rất tích cực, phong trào được người dân ủng hộ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được nâng lên. Công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân tiếp tục được quan tâm thông qua việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án,  xây dựng các mô hình trình diễn, nhân rộng các mô hình sản xuất trong nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao nhằm tăng thu nhập cho người dân như: xây dựng cánh đồng lớn, đề án 1000, xây dựng các mô hình đột phá...; chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất như: áp dụng ‘‘3 giảm, 3 tăng’’, ‘‘1 phải, 5 giảm’’, trồng hoa sinh thái, quản lý dịch bệnh bằng nấm xanh; phát huy các nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển các nghề thương mại và dịch vụ, đào tạo nghề trong nông thôn... Tính đến nay, tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 20/54 xã, đạt 37,04%. Số tiêu chí bình quân toàn tỉnh là 14,5 tiêu chí/xã. Cụ thể theo từng nhóm tiêu chí đến thời điểm này:

+ Số xã đạt 19 tiêu chí: 20 xã, chiếm 37,04% (so với tổng số xã của tỉnh).

+ Số xã đạt 15 - 18 tiêu chí: 4 xã, chiếm 7,41%;

+ Số xã đạt 5 - 9 tiêu chí: 3 xã, chiếm 5,56%;

+ Số xã đạt dưới 5 tiêu chí: 0 xã;

+ Đối với 17 xã đạt chuẩn trong giai đoạn 2011 - 2016: các xã cũng được các sở, ngành tỉnh, các địa phương quan tâm đầu tư hỗ trợ thực hiện mới, sửa chữa các công trình về cơ sở hạ tầng; hỗ trợ phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân đảm bảo giữ vững và nâng chất các tiêu chí.

Phong trào thi đua đã bám sát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Trong chỉ đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu được thể hiện rõ nét hơn, quyết liệt hơn. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Nhân dân và sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc trong tỉnh, phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã mang lại hiệu quả thiết thực, tạo động lực to lớn trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh.

Các phong trào thi đua tiêu biểu của tỉnh đã phát động hàng năm, các phong trào thi đua chuyên đề và đột xuất như: phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phát động phong trào thi đua “Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Hậu Giang chung sức xây dựng nông thôn mới”; phong trào “Chiến dịch Giao thông nông thôn - Thủy lợi và Trồng cây”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm các ngày Lễ lớn trong năm; Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, đã phát động phong trào thi đua“Dạy tốt, học tốt”, “Đổi mới sáng tạo trong dạy và học năm học 2016 - 2017”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”…, gắn với cuộc vận động “Hai không” và cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các ngành học, cấp học; Ngành y tế với phương châm “Lương y như từ mẫu”, “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”, mỗi công chức, viên chức, nhân viên ngành y tế đã không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi nghề nghiệp, thường xuyên cập nhật những tiến bộ khoa học và thông tin về y học để nâng cao chất lượng chăm sóc và khám chữa bệnh cho Nhân dân, từ đó công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ Nhân dân ngày càng được nâng lên, công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện tốt; Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nay là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và nông thôn mới” tiếp tục được triển khai sâu rộng và đi vào thực chất, trong quá trình tổ chức, chỉ đạo và phát động phong trào, đã xây dựng thành công và nhân rộng nhiều mô hình, điển hình tiêu biểu, như: “Xóm đạo bình yên”, “Khu văn hóa gia đình”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Nhà văn hóa dân lập”, “Tổ Nhân dân tự quản kiểu mẫu”, trong đó nổi bật là việc tổ chức cuộc thi “Mô hình có cảnh quan, môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp”; Các chính sách xã hội, chăm sóc người có công với nước; Việc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thân nhân liệt sĩ già yếu cô đơn, đỡ đầu con liệt sĩ mồ côi không nơi nương tựa thu được những kết quả tốt; Phong trào thi đua giải quyết tốt vấn đề giảm nghèo cũng được tỉnh đặc biệt quan tâm, công tác xóa đói giảm nghèo đã đem lại nhiều kết quả thật sự có ý nghĩa thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, cho hộ nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ dạy nghề gắn với tạo việc làm, hỗ trợ về y tế và giáo dục, hoạt động trợ giúp pháp lý, nâng dần mức sống dân cư ở các xã nghèo, các vùng khó khăn, chống tái nghèo, tạo điều kiện thuận lợi để người thất nghiệp, người thiếu việc làm và người nghèo tiếp cận được các dịch vụ công, được trợ giúp hướng nghiệp, giới thiệu việc làm, giúp người nghèo tăng thu nhập; Công tác quân sự - quốc phòng địa phương có những phong trào nổi bật “Lực lượng vũ trang về cùng Nhân dân”, ngày vì nông thôn mới…,  lực lượng An ninh có phong trào “Hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, nắm vững tình hình từ xa và từ cơ sở”, lực lượng Cảnh sát “Mưu trí, dũng cảm, vì nước quên thân, vì dân phục vụ, “Xây dựng phong cách người Cảnh sát Nhân dân vì Nhân dân phục vụ”, các đơn vị xây dựng lực lượng, trực thuộc, hậu cần “Tận tụy, nhạy bén, sâu sát, khoa học, tham mưu kịp thời”, “Mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Hậu Giang thi đua mỗi ngày làm một việc tốt vì Nhân dân”... các phong trào thi đua đã đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của Nhân dân, được Nhân dân đồng tình hưởng ứng; các phong trào, cuộc vận động đã thực sự đi vào cuộc sống người dân và ngày càng có chiều sâu, làm chỗ dựa vững chắc cho các tầng lớp Nhân dân yên tâm lao động sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh Hậu Giang.

2.2. Thực hiện chính sách khen thưởng

Chất lượng khen thưởng được quan tâm và nâng lên, các biểu hiện phô trương hình thức, bệnh thành tích trong thi đua tuy vẫn còn, nhưng đã được quan tâm khắc phục dần; công tác khen thưởng đã kịp thời, đảm bảo việc khen thưởng đúng người, đúng việc, đúng thành tích, tỷ lệ khen thưởng cho người lao động trực tiếp, công nhân, nông dân ngày càng tăng, góp phần đưa công tác thi đua, khen thưởng là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Để hạn chế việc khen thưởng tràn lan, khen thưởng tập trung cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; UBND tỉnh đã điều chỉnh, bổ sung Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, quy định tỷ lệ xét danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” tối đa không quá 15% tổng số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” của cơ quan, đơn vị, địa phương; ưu tiên xét khen thưởng cho đối tượng nữ và tập thể có từ trên 70% nữ.

- Kết quả khen thưởng năm 2016:

Đề nghị về Trung ương khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” 2 đợt cho 132 cá nhân (trong đó 03 phong tặng, 129 truy tặng) đã có quyết định.

Khen thưởng cấp Nhà nước: trình Trung ương xét khen thưởng cho 10 tập thể và 61 cá nhân (trong đó: tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho 05 tập thể, Huân chương Lao động các hạng cho 02 tập thể và 03 cá nhân, cá nhân là lãnh đạo 03 chiếm tỷ lệ 100%; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 03 tập thể và 58 cá nhân, cá nhân là lãnh đạo 53 chiếm tỷ lệ 91,3%).

Khen thưởng cấp tỉnh: Tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 4.058 tập thể và cá nhân (trong đó: tập thể là 1.258 và cá nhân là 2.800); tặng Cờ thi đua của UBND tỉnh cho 98 tập thể; công nhận Tập thể lao động xuất sắc cho 512 tập thể, trong đó:

+ Khen thưởng thường xuyên: 1.146 cá nhân; trong đó: 634 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 55,32% (năm 2015 là 63%); 512 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 44,67% (năm 2015 là 37%).

+ Khen thưởng chuyên đề, đột xuất: 1.614 cá nhân; trong đó: 906 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 56,13% (năm 2015 là 65%); 708 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 43,86% (năm 2015 là 35%).

+ Khen thưởng thành tích kháng chiến: 40 cá nhân.

- Kết quả khen thưởng 6 tháng đầu năm 2017:

Đề nghị về Trung ương khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” 2 đợt cho 34 cá nhân, (trong đó 02 phong tặng, 32 truy tặng) đã có quyết định; Huân chương Độc lập cho các gia đình có nhiều liệt sỹ phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội rà soát kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị khen thưởng cho những gia đình chưa được khen thưởng.

Khen thưởng cấp tỉnh: tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 2.152 tập thể và cá nhân (trong đó: tập thể là 582 và cá nhân là 1.570); tặng Cờ Thi đua của UBND tỉnh cho 51 tập thể; công nhận danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc cho 348 tập thể. Trong đó:

+ Khen thưởng thường xuyên: 874 cá nhân (trong đó: 336 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 38,44%; 538 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 61,55%).

+ Khen thưởng chuyên đề, đột xuất: 689 cá nhân (trong đó: 178 cá nhân là lãnh đạo, chiếm 25,83%; 511 cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, chiếm 74,16% ).

+ Khen thưởng thành tích kháng chiến: 07 cá nhân.

- Hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến:

Hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến đã thẩm định và trình Trung ương 128 trường hợp, đã có quyết định 106 trường hợp; còn 22 trường hợp có thông báo để lại, lý do hồ sơ chưa đủ cơ sở, tiêu chuẩn, bản khai thành tích chưa rõ; hiện nay còn tồn đọng khoảng 200 hồ sơ đang thẩm định (do hồ sơ còn thiếu, sai sót trả về địa phương chờ bổ sung).

- Công tác phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến

Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang tập trung chỉ đạo công tác xây dựng và nhân điển hình tiên tiến; biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân, các doanh nghiệp tiêu biểu; đặc biệt là các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và nhiều gương điển hình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công tác xây dựng điển hình tiên tiến được thực hiện đồng bộ cả 4 khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân điển hình tiên tiến.

Tổ chức thực hiện các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào lao động sáng tạo; xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương; phong trào thi đua “hai tốt” - “hai không” xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong ngành giáo dục; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; phong trào Thanh niên lập thân, lập nghiệp; khởi nghiệp.

Phát huy hơn nữa chương trình phối hợp trong công tác tuyên truyền giữa Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh ký với Ban Dân vận Tỉnh ủy về đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” giai đoạn 2014 - 2020; Liên đoàn Lao động tỉnh về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2014 - 2018; Hội Nông dân tỉnh về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2013 - 2018; Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang về công tác tuyên truyền phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2013 - 2016.

Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang, Báo Hậu Giang xây dựng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; tuyên dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân đã có những thành tích tiêu biểu trong phong trào thi đua của tỉnh nhà; đã tạo được sự hưởng ứng tích cực và đồng thuận cao trong Nhân dân khi tham gia các phong trào thi đua của địa phương phát động.

3. Công tác quản lý Nhà nước về thi đua, khen thưởng

Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2015 Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Quyết định số 29/2016/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang ban hành Hướng dẫn số 01/HD-SNV.TĐKT ngày 17 tháng 11 năm 2016 về việc tổ chức, thực hiện khối thi đua ngành Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh.

Các phong trào thi đua của tỉnh đều được quan tâm chỉ đạo sơ kết rút kinh nghiệm để hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra; đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, đánh giá, tổng kết các phong trào thi đua. Tại hội nghị tổng kết Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua; nhằm động viên, khích lệ tinh thần tham gia các phong trào thi đua của tỉnh.

Hàng năm UBND tỉnh Hậu Giang giao Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh tổ chức kiểm tra tại 08 huyện, thị xã, thành phố (kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng của Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp huyện, cấp xã và trường học) và các sở, ban, ngành về thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, chưa phát hiện sai phạm.

Quỹ thi đua, khen thưởng các cấp được trích lập, sử dụng đúng theo quy định tại Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Cơ quan Ban Thi đua - Khen thưởng hiện đang ở tạm trong Sở Nội vụ tỉnh Hậu Giang, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị cơ bản đảm bảo cho các hoạt động của công tác thi đua, khen thưởng.

Tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh: Ban Thi đua - Khen thưởng gồm Phòng Hành chính - Quản trị, Phòng Nghiệp vụ I và Phòng Nghiệp vụ II; hiện có 10 công chức (trong đó, 01 hợp đồng theo Nghị định 68). Lãnh đạo ban gồm Trưởng ban (kiêm Phó Giám đốc Sở Nội vụ) và 01 Phó Trưởng ban.

Công chức chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng huyện, thị xã, thành phố: 100% UBND huyện, thị xã, thành phố có 02 công chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng; trong đó, có 01 Phó Trưởng phòng Phòng Nội vụ là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp huyện và 01 chuyên viên.

Công chức kiêm nhiệm làm công tác thi đua, khen thưởng xã, phường, thị trấn: 100% xã, phường, thị trấn bố trí công chức Văn phòng - Thống kê kiêm nhiệm công tác thi đua, khen thưởng.

Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng từ tỉnh đến cơ sở được bổ sung, kiện toàn, củng cố; được tập huấn, hướng dẫn về nghiệp vụ và được phân công theo dõi, chỉ đạo phong trào thi đua nên đã từng bước làm tốt công tác tham mưu cho các cấp lãnh đạo không ngừng đổi mới công tác thi đua cả về hình thức tổ chức và biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua, cụ thể hóa tiêu chuẩn, thực hiện công khai chấm điểm, bình xét thi đua theo nguyên tắc thành tích đến đâu khen thưởng đến đó, khen thưởng có trọng tâm, trọng điểm; quan tâm đến việc bố trí cán bộ làm phong trào thi đua như lời Bác Hồ đã dạy “Cán bộ nào, phong trào đó”. Từ đó mới có thể theo sát được phong trào thi đua, đánh giá đúng kết quả của phong trào thi đua và thông qua phong trào để phát hiện nhân tố mới, bồi dưỡng điển hình tiên tiến và nhân rộng các điển hình thông qua việc tổng kết và phát động phong trào học tập các điển hình tiên tiến và tuyên truyền nhân rộng điển hình tiên tiến. Đây cũng là cơ sở trong việc xem xét, thẩm định thành tích để đề nghị các cấp có thẩm quyền khen thưởng cho các tập thể, cá nhân đã có nhiều đóng góp thành tích xuất sắc cho phong trào thi đua một cách chính xác, khách quan. Chú trọng khen thưởng đối với các tập thể nhỏ, các cá nhân là người dân, người lao động, người trực tiếp sản xuất, quan tâm khen thưởng đột xuất và kịp thời nhằm động viên các phong trào hành động cách mạng của quần chúng Nhân dân tại cơ sở, đưa công tác thi đua, khen thưởng dần dần đi vào nề nếp và từng bước phát triển.

4. Những khó khăn, hạn chế, bất cập vướng mắc và nguyên nhân

4.1. Những khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc tổ chức thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng cũng gặp những khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:

- Quy định về tiêu chuẩn một số danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng còn khái quát, chưa cụ thể hóa, chủ yếu mang tính định tính, gây khó khăn trong việc bình xét các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

- Một số Bộ, ngành Trung ương ban hành văn bản để chỉ đạo và hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng chưa bám sát những quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, có sự chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn, gây khó khăn cho địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng.

- Phong trào thi đua ở một số địa phương, ngành, lĩnh vực, đơn vị còn mang tính hình thức, chưa toàn diện, thiếu chiều sâu và sự vận dụng lan tỏa, chưa thu hút được nhiều lực lượng tham gia hưởng ứng; công tác phối hợp tổ chức thực hiện giữa các cơ quan liên quan còn thiếu chặt chẽ và chưa đồng bộ.

- Công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến có nơi còn mang tính hình thức, thiếu tính thuyết phục, không có sức thu hút đối tượng học tập làm theo, công tác tuyên truyền, nêu gương điển hình tiên tiến chưa được chú trọng, nên tác dụng và sự lan tỏa của điển hình trong thực tế vẫn còn hạn chế.

- Việc biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp cho phong trào thi đua chưa kịp thời, có nơi chưa thật sát, đúng nên chưa có tác dụng động viên, thúc đẩy các điển hình tiên tiến vươn lên và chưa tạo động lực để phong trào thi đua phát triển mạnh và bền vững.

- Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thi đua, khen thưởng chưa được tiến hành thường xuyên; chưa có những giải pháp khắc phục triệt để sau thanh tra, kiểm tra.

4.2. Nguyên nhân

Hệ thống văn bản quy định về thi đua, khen thưởng chưa đồng bộ; Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa bao quát được các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều vấn đề về bình xét khen thưởng trong thực tế chưa được quy định rõ, dẫn đến lúng túng khi triển khai và vận dụng vào thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng ở từng cơ quan, đơn vị.

Một số cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác thi đua, khen thưởng; công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến chưa được phát huy đúng mức, các Nghị quyết và chương trình hành động của cấp ủy và chính quyền các cấp chưa đặt vấn đề thi đua đúng mức, chưa đánh giá hết hiệu quả của phong trào thi đua.

Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể Nhân dân, các tổ chức xã hội trong việc phát động, tổ chức phong trào thi đua có lúc, có việc chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ.

Công tác tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong một số lãnh đạo các ngành, các cấp còn chung chung. Nhiều cơ quan, tổ chức chưa xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá có tính “lượng hóa” để thuận tiện cho việc đánh giá kết quả công việc để hạn chế tính chủ quan khi bình xét thi đua.

Không ít cơ quan, tổ chức có tư tưởng cào bằng, bình bầu các tập thể, cá nhân xuất sắc trong tháng, quý, năm thực hiện theo chế độ luân phiên, do đó không tạo động lực phấn đấu cho người lao động.

Bộ máy tổ chức, nhân sự làm công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao. Phần lớn cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng ở cơ sở đều là kiêm nhiệm, lại thường xuyên thay đổi vị trí công tác, do vậy thiếu tính kế thừa và hạn chế năng lực tham mưu, nặng về xét duyệt và làm thủ tục khen thưởng, chưa tạo được đột phá trong nghiên cứu, đề xuất chủ trương, biện pháp và tổ chức phong trào thi đua.

4.3. Đề xuất, kiến nghị

Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương phối hợp với cơ quan thi đua, khen thưởng ở các bộ, ban, ngành Trung ương thống nhất xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm động viên các phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng, lan tỏa mạnh mẽ, tránh tình trạng mỗi bộ, ngành ban hành văn bản hướng dẫn riêng, tạo sự chồng chéo giữa các văn bản, gây khó khăn cho địa phương.

Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định thống nhất về thẩm quyền tặng bằng khen của tổ chức Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn Lao động và các tổ chức chính trị xã hội thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

5. Kiến nghị sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng và các hướng dẫn thi hành

5.1. Kiến nghị sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng

- Bổ sung nguyên tắc khen thưởng (Điều 6): Thành tích đến đâu khen đến đó, bổ sung nguyên tắc này nhằm khen thưởng kịp thời và khắc phục tình trạng khen cộng dồn thành tích.

- Sửa đổi Danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” Điều 27: thêm cụm từ “Lao động tiên tiến” vào khoản 1 (1. Danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” được xét tặng cho tập thể Lao động tiên tiến đạt các tiêu chuẩn sau:)

+ Bỏ điểm b khoản 1“Có phong trào thi đua thường xuyên, thiết thực, hiệu quả”, vì ở Điều 28 đã có quy định.

+ Bổ sung tiêu chuẩn Được lựa chọn trong những Tập thể lao động tiên tiến tiêu biểu và tối đa không quá 50% tổng số Tập thể lao động tiên tiến. Nếu có giới hạn thì tránh được việc khen tràn lan, hình thức và việc xem xét, đánh giá các tiêu chuẩn được thực hiện nghiêm túc hơn.

- Điều 101: Khoản 2 đề nghị sửa đổi: “Ngoài các hình thức khen thưởng được quy định tại Luật này, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể quy định các hình thức khen thưởng khác để động viên phù hợp đối với từng cá nhân, tập thể, kịp thời nêu gương tốt trong lao động, sản xuất, công tác và động viên phong trào thi đua, phù hợp với các nguyên tắc do Luật này quy định”.

5.2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành

- Quy định Quỹ thi đua, khen thưởng cần quy định tỷ lệ cụ thể, không dùng “không quá” hoặc “tối đa” (trước đây là không quá 1% tổng chi thường xuyên), để đảm bảo nguồn kinh phí chi cho các hoạt động khen thưởng. Đề xuất bỏ quy định viết báo cáo thành tích đối với hình thức tặng Giấy khen, chỉ nêu tóm tắt thành tích đạt được, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong công tác thi đua, khen thưởng.

- Cần có quy định, hướng dẫn thưởng nóng cho các tập thể, cá nhân lập thành tích đột xuất để tương xứng với thành tích; hiện nay chỉ có khen và kèm theo tiền thưởng theo quy định.

- Quy định một cá nhân một năm chỉ nhận một hình thức khen thưởng cùng cấp, kể cả khen thưởng thường xuyên, đột xuất hay chuyên đề.

Trên đây là Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng năm 2017 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang./.

 

 

Nơi nhận:

- Ban TĐKT TW (HN, TP. HCM);

- TT: TU, HĐND, UBND tỉnh; 

- Ban TĐKT tỉnh;

- Lưu: VT, TH.KM

D\2017\BC 679 thuchien TĐKT 2017

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

Đồng Văn Thanh