26. Anh Động. Chương Thiện 150 ngày đêm (28-1 đến 28-6-1973) / Anh Động //  http://www.baohaugiang.com.vn. – 2009. – Ngày 20 tháng 4. 

Trước ngày ký kết Hiệp định Pa-ri, bọn chỉ huy vùng 4 chiến thuật tỏ thái độ hung hăng, họ tuyên bố: “Tiếp tục đẩy mạnh bình định, giành chủ động trên khắp lãnh thổ, không cho cộng sản chiếm một nơi nào!”.

 Trong một tuần lễ, từ ngày 11-1-1973, Quân đoàn 4 Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc càn quét cấp sư đoàn và cấp tiểu khu, chủ yếu đánh vào vùng Chương Thiện.

 Trước ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực, Mỹ còn cho 27 lượt máy bay B52 ném bom rải thảm suốt một ngày một đêm hủy diệt ấp Long Bèo thuộc xã Vĩnh Hòa Hưng.

 Khi Hiệp định Pa-ri bắt đầu có hiệu lực (28-1-1973), Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Không thi hành Hiệp định Pa-ri; không hòa bình; chống hòa hợp với Cộng sản”. Thiệu ra lệnh cho quân đội cứ đánh tới, lấn át, giành dân, “cắm cờ cùng khắp, tràn ngập lãnh thổ”. Thiệu hò hét: “Nếu Cộng sản dùng súng lục thì Quốc gia trả lời bằng súng cối, đại bác!”.

 Ngày 28-1-1973, Tỉnh ủy Cần Thơ phối hợp với Thành ủy huy động 36.000 quần chúng (thành phố có 10.000 người) xuống đường chào mừng Hiệp định Pa-ri, chào mừng hòa bình. Bọn cầm đầu vùng 4 chiến thuật hạ lệnh cho quân lính thẳng tay đàn áp. Tiếp đó, chúng xua quân tràn ngập từ tuyến lộ Vòng Cung ra Châu Thành A, xuống Phụng Hiệp, cắm cờ lấn đất.

 Ngày 30-1-1973, địch cho pháo cỡ lớn bắn liên tục 3.800 quả vào ấp Cái Nai (xã Long Trị) và cho quân vào đốt trên 10.000 giạ lúa.

 Ngày 2-2-1973, Bộ Tư lệnh vùng 4 chiến thuật và Quân đoàn 4 triệu tập các sĩ quan chủ chốt cùng bọn cầm đầu ngụy quyền trong vùng để phổ biến chỉ thị của Nguyễn Văn Thiệu về Hiệp định Pa-ri và tuyên bố: “Trên hòa bình, dưới chiến tranh”; xử bắn người nào hoan hô hòa bình, xử bắn lính bỏ trốn, bỏ tù người trong gia đình có con bỏ trốn; buộc các nhà dân phải treo cờ ba sọc trước nhà, trên ghe xuồng, mái nhà cũng phải sơn cờ ba sọc.

 Chúng ra lệnh cho tỉnh, quận và các đơn vị thực hiện “ba ngăn” (ngăn quần chúng nổi dậy, ngăn cơ sở ngụy quyền sụp đổ, ngăn ngụy quân tan rã) và giành lại những phần đất đã mất sau ngày 26-1-1973. Với số quân ồ ạt tràn ngập lãnh thổ, trong một thời gian ngắn, địch lấn chiếm ở miền Tây Nam bộ 78 đồn, 105 chốt dã ngoại, bắt đầu treo cờ ba sọc rồi mời Ủy hội Quốc tế đến xem và xác nhận cho chúng.

 Chúng dùng cả một kế hoạch quy mô bình định, lấn chiếm vùng giải phóng của ta, nội dung như sau:

 Chuẩn bị khôi phục kinh tế một kế hoạch dài hạn, nhất là nông nghiệp và kêu gọi đầu tư công nghiệp. Củng cố ngụy quân, ngụy quyền, giảm dần quân số, thực hiện từng bước hiện đại hóa ngụy quân.

 Bước một, từ tháng 3 đến tháng 5-1973, tập trung lực lượng bình định tái chiếm cho được vùng Chương Thiện.

 Bước hai, từ tháng 6 đến tháng 9-1973, thực hiện lấn chiếm vùng U Minh.

 Bước ba, từ tháng 10 đến tháng 11-1973, bình định vùng nam Cà Mau, cố gắng giữ và củng cố những nơi đã chiếm được.

 Từ ngày 23 đến 27-1-1973, Khu ủy Tây Nam bộ đề ra “kế hoạch thời cơ”. Quân khu đã giao nhiệm vụ cho tất cả các đơn vị chủ lực kết hợp chặt chẽ với lực lượng các tỉnh và dân quân du kích nổ súng tiến công đều khắp toàn khu, bao vây trên 1.000 đồn bót, nhổ sạch khoảng 100 đồn, mở rộng thêm vùng giải phóng.

 Ngày 28-1-1973, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực, ta ngưng tiếng súng và đứng chân tại chỗ.

 Nhưng, cũng đúng ngày đó, bọn cầm đầu vùng 4 chiến thuật đã ra lệnh đàn áp cuộc tuần hành của quần chúng tại thành phố Cần Thơ và cho bắn phá, xua quân đi lấn chiếm khắp nơi, bộc lộ rõ âm mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri của chúng.

 Sáng ngày 28-1-1973, đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy Tây Nam bộ, đến cơ quan Thành ủy Cần Thơ đóng tại xã Hỏa Lựu nghe Thành ủy báo cáo tình hình, đi thăm một trung đoàn chủ lực và hai ngày liền thị sát nhiều mặt trận để chứng kiến những hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của quân ngụy.

 Ngày 30-1-1973, Ban Thường vụ Khu ủy họp bất thường. Ngày sau, Thường vụ Khu ủy triệu tập cuộc họp mở rộng, có Quân khu, các ngành, đại diện một số tỉnh, thành phố tham dự. Hội nghị thống nhất đánh giá: Hiệp định Pa-ri là thắng lợi to lớn của quân và dân ta; Mỹ ngụy thua đã rõ ràng. Ta phải chặn bàn tay phá hoại của chúng. Muốn vậy, phải trừng trị mạnh bọn phá hoại Hiệp định, làm cho chúng suy sụp.

Quân ngụy tuy hung hăng, nhưng thế của chúng đã khác trước; đã có Hiệp định Pa-ri, quân Mỹ đã phải chấp nhận rút khỏi chiến trường miền Nam.

 Thời gian này, một đoàn Nhà báo Canada và Nhật đến vùng Chương Thiện. Chỉ huy Trung đoàn 1 Quân khu và cán bộ Tỉnh ủy Cần Thơ hướng dẫn họ đến những nơi quân ngụy bắn pháo làm cháy nhà dân; phá hoại vườn tược... Hàng ngàn quần chúng kéo đến đưa đơn vạch tội phá hoại Hiệp định của binh sĩ ngụy. Đoàn Nhà báo đã xác nhận quân ngụy vi phạm Hiệp định Pa-ri.

 Theo sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam bộ, từ ngày 28-1 đến ngày 15-2-1973, ở phía Bắc Long Mỹ, Trung đoàn 1 đã chặn địch đi lấn chiếm, diệt gần 300 tên, vận động đại đội 406 bảo an chống lại lệnh hành quân lấn chiếm. Ta vừa đánh địch vừa tố cáo địch vi phạm Hiệp định Pa-ri.

 Ở Nam Long Mỹ, ngày 16-2-1973, trung đoàn 33 thuộc sư 21 ngụy, có 2 xe M113 đến đánh địa điểm đáp máy bay trực thăng rước cán bộ ta đi làm việc trong Ủy ban Liên hiệp quân sự. Tức thì một bộ phận của Trung đoàn 10 chủ lực khu, chặn bước tiến của chúng, diệt 1 xe M113, buộc chúng phải lui quân.

 Thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, ngày 9-3-1973, địch triển khai bước 1 đánh vào Chương Thiện, vùng ruột của Đồng bằng sông Hậu. Đây là địa bàn cơ động nằm giáp ranh các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, rạch Giá. Trước hết, chúng tiến công 4 xã Hỏa Lựu, Vĩnh Viễn, Lương Tâm, Xà Phiên thuộc huyện Long Mỹ. Vùng này nằm ở phía Tây Nam Long Mỹ, có con sông Nước Đục và Nước Trong. Địch huy động toàn bộ sư đoàn 21, một bộ phận của sư đoàn 9, một số tiểu đoàn bảo an, thiết đoàn 6 (52 xe M113), 4 tiểu đoàn pháo, 2 giang đoàn, chia làm nhiều cánh đánh vào.

 Ta đã nắm được kế hoạch của địch, sử dụng Trung đoàn 1 chủ lực, tiểu đoàn địa phương của Cần Thơ ở cánh Long Mỹ, Phụng Hiệp; Trung đoàn 2 chủ lực ở cánh Ba Hồ và du kích các xã nơi vùng địch tiến đánh, bố trí trận địa đánh từ xa đến gần, chia cắt địch để đánh. Trên sông Cái Lớn, pháo binh Quân khu nhận chìm 3 tàu địch. Đoạn Gò Quao đến Cầu Đúc, đặc công đánh chìm 5 tàu.

 Ở phía Đông Bắc Long Mỹ, ta và địch giành nhau từng con rạch, bờ kinh, cuộc chiến diễn ra rất ác liệt! Quân ta áp sát các chi khu Long Mỹ, Ngan Dừa, Giồng Riềng, dùng hỏa lực uy hiếp địch. Trong lúc đó ta kết hợp ba mũi giáp công, vận động, giáo dục, gây mâu thuẫn giữa quân chủ lực và quân bảo an địch trong nhiều ngày liền, trung bình mỗi ngày có 100 binh sĩ rã ngũ.

 Địch đóng được 1 chốt và 2 đồn ở Tây Nam Long Mỹ, nhưng ta đã vận động 14.000 dân trở về ruộng vườn cũ.

 Cuối tháng 4-1973, địch tăng thêm quân để đánh vào vùng giải phóng, thuộc 3 huyện Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng. Chúng huy động đến 46 tiểu đoàn. Ngày 2-5-1973, sở chỉ huy của trung đoàn 31 thuộc sư 21, từ chi khu Long Mỹ chuyển vào kinh 13 (xã Vĩnh Viễn) để bình định dài ngày.

 Ngày 7-5-1973, địch điều 2 trung đoàn 31 và 33 thuộc sư 21 tới cắm chốt phía Nam - phía Bắc Long Mỹ, từ đó đánh tỏa ra các vùng giải phóng.

 Đêm 5 rạng 6-5-1973, quân ta lần lượt diệt cơ bản sở chỉ huy trung đoàn 31 đóng tại kinh 13, phá hủy 1 pháo 105 ly, phá 2 đồn khác tại khu vực này. Đồng thời các trận địa pháo của địch ở chi khu Long Mỹ, Ngan Dừa, Ngã Năm đều bị ta pháo kích, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

 Chiều ngày 8-5-1973, Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 2 của ta kỳ tập đồn Thạnh Phú (Bắc sông Nước Đục), diệt một đại đội bảo an chuyên đi lấn chiếm tại đây. Cùng thời gian đó, một bộ phận của Trung đoàn 1 diệt hai đồn địch ở phía Bắc Long Mỹ; ngay sau đó, một đơn vị phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an địch đến ứng chiến.

 Ngày 10-5-1973, một bộ phận Binh chủng đặc công của Quân khu diệt đồn Cầu Đúc và bố trí phục kích đánh quân chi viện. Khi tiểu đoàn bảo an 479 của địch lọt vào ổ phục kích, Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 2 của ta diệt gọn tiểu đoàn bảo an này, hỗ trợ khu tập trung Cái Sình nổi dậy, trở về ruộng vườn cũ.

 

Anh Động

In trang