Xét duyệt đề tài “Khảo sát tình hình thoái hóa khớp gối và so sánh kết quả điều trị bằng tiêm nội khớp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân với acid hyaluronic tại tỉnh Hậu Giang”
30/8/2017, 21:13 (GMT+7)

Ngày 10 tháng 8 năm 2017 Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội đồng Khoa học và Công nghệ đánh giá hồ sơ giao trực tiếp tổ chức chủ trì và cá nhân chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, đề tài “Khảo sát tình hình thoái hóa khớp gối và so sánh kết quả điều trị bằng tiêm nội khớp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân với acid hyaluronic tại tỉnh Hậu Giang”. Đề tài do BSCKI. Lâm Thanh Thoảng làm chủ nhiệm và Trường Đại học Võ Trường Toản chủ trì thực hiện.

BSCKI. Lâm Thanh Thoảng - Chủ nhiệm đề tài trình bày nội dung cần nghiên cứu

Đề tài thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệ thoái hóa khớp gối trong cộng đồng dân cư tại tỉnh Hậu Giang; so sánh kết quả điều trị giữa liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân và tiêm acid hyaluronic dựa trên thang điểm VAS, WOMAC và KOOS sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng; so sánh kết quả điều trị giữa liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân và tiêm acid hyaluronic lên các chỉ số dấu hiệu thoái hóa trên siêu âm và MRI khớp gối sau 6 tháng, 12 tháng.

Đề tài thực hiện bao gồm các nội dung sau:

- Khảo sát và chọn đối tượng có biểu hiện thoái hóa khớp gối và phân loại đối tượng thoái hóa khớp gối độ 2, 3 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang theo tiêu chuẩn chọn mẫu bằng cách chọn mẫu nhiều giai đoạn (PPS), tìm những bệnh nhân có biểu hiện thoái hóa khớp gối;

- Khám lâm sàng biểu hiện bệnh, đánh giá mức độ, khả năng vận động, chức năng khớp gối bị tổn thương và thực hiện cận lâm sàng siêu âm, chụp cộng hưởng từ khớp gối;

- Tiến hành can thiệp điều trị bằng hai phương pháp PRP và tiêm acid hyaluronic trên 2 nhóm đối tượng nghiên cứu được chọn bao gồm nhóm can thiệp 1 là tiêm PRP, liệu trình tiêm PRP gồm 3 mũi, cách 1 tuần tiêm 1 mũi, nhóm can thiệp 2 là tiêm acid hyaluronic (Hyalgan), liệu trình tiêm gồm 5 mũi, cách 1 tuần tiêm 1 mũi;

- Quản lý, theo dõi, đánh giá kết quả điều trị theo thời gian trên hai nhóm đối tượng được chọn can thiệp điều trị thông qua các chỉ số lâm sàng, hình ảnh học (X-quang, siêu âm, MRI), đánh giá tại các thời điểm 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm. Theo dõi các tác động không mong muốn của 2 phương pháp can thiệp: tính an toàn của liệu pháp bao gồm các tác dụng không monh muốn có liên quan đến biện pháp điều trị được ghi nhận và xử lý tai biến (nếu xảy ra) tại bất kỳ thời điểm nào trong khoảng 1 năm theo dõi.

Kết quả của đề tài sẽ tìm ra thực trạng về bệnh thoái hóa khớp gối trong cộng đồng đặc biệt là tỉnh Hậu Giang. Kết quả nghiên cứu so sánh tính hiệu quả độc lập của hai phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối, phương pháp an toàn, phù hợp, hiểu quả, khả thi, đóng góp một phần vào điều trị bệnh thoái hóa khớp gối trong lĩnh vực y khoa trong nước, tạo tiền đề cho các nghiên cứu nối tiếp về sau trong địa bàn tỉnh Hậu Giang nói riêng và cả nước nói chung.

                                   HN (Sở KH&CN Hậu Giang)

Các tin khác