</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 45/BC-UBND Hậu Giang, ngày 3 tháng 5 năm 2017

BÁO CÁO

Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW

về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

 
 

 


Thực hiện Kế hoạch số 39-KH/TU ngày 27 tháng 4 năm 2017 của Tỉnh ủy Hậu Giang tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, UBND tỉnh báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, cụ thể như sau:

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT SỐ 11-NQ/TW

          I. Đặc điểm tình hình

1. Trong 10 năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thường xuyên quan tâm, chỉ đạo thực hiện “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” theo Nghị quyết số 11-NQ/TW, xem đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của tỉnh; qua đó, đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của các ngành, các cấp, khẳng định những chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp của Đảng và Nhà nước đối với công tác phụ nữ.

2. Các cấp đều thành lập và củng cố kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, các thành viên của Ban đã qua tập huấn kiến thức về giới, lồng ghép giới,
Luật Bình đẳng giới và ngày càng được nâng cao về kỹ năng nghiệp vụ
, do đó, công tác tham mưu cho các Ban hoạt động ngày càng hiệu quả.

3. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới thời gian qua luôn nhận được sự quan tâm của các cấp ủy và chính quyền; đã có nhiều hoạt động thiết thực trong việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực thể hiện qua việc ban hành các chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch hành động; việc bố trí nguồn lực, lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu vào chương trình công tác, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương được thực hiện cơ bản.

4. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt bổ nhiệm cán bộ nữ đã được quan tâm hơn so với trước, cấp ủy, chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho phụ nữ tham gia công tác ở các cơ quan Đảng, đoàn thể và chính quyền. Lãnh đạo nữ trong hệ thống cấp ủy và chính quyền các cấp ngày càng tăng.

II. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số
11-NQ/TW

1. Tình hình tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW ngày 18 tháng 01 năm 2017 của
Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW

          Nhận thức được công tác phụ nữ và bình đẳng giới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa là mục tiêu, vừa là tiền đề, động lực để phụ nữ phát triển, trong những năm qua, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh và các ngành chức năng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến đường lối, chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.

          2. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện
Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW

Tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo công tác phụ nữ, cụ thể:      

a) Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 06 tháng 9 năm 2007 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

          b) Chương trình số 17/CTr/TU ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Tỉnh ủy triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

c) Kết luận số 40-KL/TU ngày 17 tháng 7 năm 2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị.

d) Thông tri số 01-TT/TU ngày 23 tháng 7 năm 2015 của Tỉnh ủy về việc thực hiện Thông báo kết luận số 196-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá XI).

đ) Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 09 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2012-2015.

          e) Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2016 của UBND tỉnh thực hiện Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh.

          3. Công tác triển khai, tuyên truyền phổ biến Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW trong cán bộ, hội viên phụ nữ

Công tác tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW được chính quyền các cấp quan tâm triển khai rộng rãi từ tỉnh đến cơ sở, tập trung chủ yếu vào các hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao năng lực về bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và các tầng lớp Nhân dân với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, cụ thể:

a) Thực hiện các chuyên trang, chuyên đề tuyên truyền Luật Bình đẳng giới, Nghị quyết số 11-NQ/TW, Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, hoạt động bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trên các phương tiện thông tin đại chúng, với 87 chuyên đề và hàng trăm tin, bài; tuyên truyền Hỏi - Đáp về Luật Bình đẳng giới và các Nghị định hướng dẫn thi hành; phát sóng 102 kỳ chính và phát lại 176 kỳ/các Đài truyền thanh và được tiếp âm đến các Trạm truyền thanh xã; lắp đặt 34 panô tuyên truyền về công tác bình đẳng giới, phòng chống bạo lực trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố; in ấn, phát hành trên 80.000 tờ rơi tuyên truyền về công tác bình đẳng giới, 240 cuốn sổ tay hướng dẫn hoạt động về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ, 1.600 cuốn Cẩm nang Hỏi - Đáp về bình đẳng giới; hướng dẫn hoạt động mô hình Câu lạc bộ “Bình đẳng giới và hôn nhân gia đình”, “Ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới”; xây dựng Quy ước đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới tại 05 xã thuộc thành phố Vị Thanh, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ và thị xã Ngã Bảy; xây dựng Chương trình
phối hợp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.

b) Tổ chức 07 cuộc tọa đàm trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, 02 cuộc Hội thảo nâng cao chất lượng hoạt động các Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh, 43 buổi nói chuyện chuyên đề về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới, 01 cuộc mittinh, 02 cuộc hội nghị trợ giúp pháp lý, 02 cuộc thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình với 3.847 đại biểu tham dự; hưởng ứng cuộc thi "tìm hiểu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới" do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phát động, kết quả toàn tỉnh có 1.643 bài dự thi của các cá nhân.

c) Tổ chức 59 lớp tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý dành cho lãnh đạo nữ, với 4.112 lượt đại biểu là lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể, đại biểu HĐND các cấp, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, thành viên Câu lạc bộ “Ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới” và Câu lạc bộ “Bình đẳng giới và hôn nhân gia đình” tham dự.

d) Xây dựng thí điểm 09 Mô hình Câu lạc bộ “Ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của bạo lực trên cơ sở giới”, 01 Mô hình Câu lạc bộ “Bình đẳng giới và Hôn nhân gia đình”, 01 Mô hình Câu lạc bộ “Xây dựng gia đình an toàn cho phụ nữ và trẻ em”.

đ) Cử cán bộ, chuyên viên phụ trách công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ tham dự các buổi hội thảo, hội nghị, tập huấn nâng cao năng lực bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ do các cơ quan Trung ương tổ chức; tổ chức cho thành viên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh và huyện đi học tập kinh nghiệm về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tại tỉnh An Giang.

e) Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ được lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp quan tâm. Trong 10 năm đã đào tạo nghề cho 82.981 lao động, trong đó, có 29.208 lao động nữ, chiếm tỷ lệ 35,19%; giải quyết việc làm cho 223.664 lao động, trong đó có 97.935 lao động nữ, chiếm tỷ lệ 43,78%; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 4,24%, giảm tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn xuống 8,5%; tỷ lệ nữ nghèo được vay vốn là 80%; nữ làm chủ hộ thoát nghèo là 18.597 hộ.

          4. Công tác kiểm tra, giám giám, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW

 Hàng năm, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh và các s, ban, ngành đều có kế hoạch hoặc lồng ghép nội dung kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện công tác bình đẳng giới, Nghị quyết số 11-NQ/TW và Luật Bình đẳng giới trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố; đồng thời, hướng dẫn các địa phương kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

          5. Sự chuyển biến nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội sau khi thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW

Cấp ủy và chính quyền các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ; Mặt trận Tổ quốc và các ngành, đoàn thể tích cực đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị quyết số 11-NQ/TW và Kết luận số 55-KL/TW; phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới; kiến thức phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; cụ thể hóa các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác phụ nữ; lồng ghép hoạt động bình đẳng giới vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đơn vị, tạo điều kiện thực hiện tốt các chính sách như: chính sách cán bộ nữ, công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt của phụ nữ, chính sách hỗ trợ phụ nữ nghèo được vay vốn, giải quyết việc làm…; nhận thức của các ngành, các cấpcủa xã hội về bình đẳng giới được nâng lên; phụ nữ được tôn trọng và đối xử bình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được cải thiện.

          III. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW

1. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được tăng cường; các nội dung kế hoạch hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ được triển khai, quán triệt đến các cấp, các ngành và được phổ biến đến các tầng lớp Nhân dân.

2. Để tăng cường tỷ lệ nữ tham gia ĐBQH khoá XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, Tỉnh đã đẩy mạnh hoạt động truyền thông dưới nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của các cấp về công tác cán bộ nữ: tích cực tuyên truyền công tác bầu cử, phát hành tờ rơi, áp phích truyền thông ủng hộ đại biểu nữ; tổ chức 13 lớp tập huấn cho 1.336 đại biểu nữ tham gia ứng cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; cử 04 nữ ứng cử viên ĐBQH khóa XIV tham dự lớp tập huấn do Trung ương tổ chức… Kết quả, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 là 15,9%, nhiệm kỳ 2016 - 2021 là 19,45%; tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2010 - 2015 là 13,7%, nhiệm kỳ 2015 - 2020 là 14,81%.

3. Thực hiện tốt việc tăng cường vận động về giới trong cộng đồng, gia đình để tạo kiện cho nữ giới tham gia các hoạt động xã hội; xóa bỏ định kiến giới trong phân công lao động trong gia đình, doanh nghiệp, cơ quan và ngoài xã hội;

4. Thực hiện hiệu quả việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu; tuyên truyền, vận động người dân thay đổi cơ bản tâm lý “trọng nam, khinh nữ” trong việc chăm sóc con cái, giảm các hành vi bạo hành với vợ và con gái trong gia đình, giảm tỷ lệ chênh lệch giới tính, đảm bảo sự cân bằng giữa bé trai và bé gái, không để xảy ra tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em.

5. Xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phong trào phụ nữ và bình đẳng giới của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng kể. Phụ nữ các cấp đã phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo trong học tập, lao động và công tác, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã có nhiều sáng tạo trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phụ nữ.

IV. Đánh giá chung, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

1.     Đánh giá chung

a) Ưu điểm

- Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11- NQ/TW đã từng bước tạo được những chuyển biến tích cực về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên địa bàn tỉnh; các địa phương triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch đề ra, nhất là quan tâm những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em.

          - Tình hình đời sống, việc làm của phụ nữ đã được quan tâm cải thiện hơn trước, nhiều chị em có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn vay thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội.

          b) Hạn chế

- Việc triển khai quán triệt, học tập, tuyên truyền Nghị quyết ở một số địa phương còn chậm, chưa đồng bộ và rộng khắp; nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể về thực hiện Nghị quyết chưa được đầy đủ; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên.

- Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cơ quan dân cử vẫn còn thấp, nhất là ở xã, phường, thị trấn, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ trong các ngành và xã hội.

- Cơ chế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã phát sinh nhiều vấn đề xã hội có liên quan trực tiếp đến phụ nữ; tình trạng bạo lực gia đình, tệ nạn xã hội, mại dâm, vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp; nhận thức về bình đẳng giới còn nhiều bất cập.

          - Nhìn chung phụ nữ còn nhiều điểm hạn chế so với nam giới, đáng kể là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, cơ hội có việc làm và thu nhập không cao; trong doanh nghiệp, tiền lương của nhiều lao động nữ chưa tương xứng với công lao động đã bỏ ra, điều kiện lao động, điều kiện sống chưa được đảm bảo; phụ nữ nông thôn thiếu việc làm, thiếu sự tư vấn về việc làm, nghề nghiệp, di cư tự phát ra ngoài tỉnh còn nhiều; bạo lực gia đình còn tiếp diễn, việc kết hôn với người nước ngoài còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp.

c) Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền ở nhiều địa phương, đơn vị về bình đẳng giới, về vai trò, năng lực của phụ nữ còn hạn chế; định kiến về giới còn tồn tại dai dẳng trong nhận thức chung của xã hội do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo và tập tục phong kiến lạc hậu từ lâu đời; thiếu quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương của Đảng về công tác vận động phụ nữ, chưa chủ động nghiên cứu, dự báo và giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội phát sinh liên quan tới phụ nữ; chủ trương về công tác cán bộ nữ chưa được quán triệt, thực hiện đầy đủ trong quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt cán bộ, còn có biểu hiện "khoán trắng" công tác phụ nữ cho Hội phụ nữ.

- Công tác tham mưu và hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ đôi lúc còn hạn chế.

- Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác phụ nữ, cán bộ nữ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; chính sách chăm lo, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, xây dựng gia đình còn nhiều bất cập.

 

- Hoạt động của các cấp Hội phụ nữ chưa hiệu quả, chưa giải quyết tốt một số vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là những vấn đề xã hội bức xúc liên quan tới phụ nữ; việc tham mưu, đề xuất với chính quyền các cấp về công tác phụ nữ trong từng thời kỳ còn rất hạn chế; một bộ phận phụ nữ còn tự ti, an phận, chưa chủ động vượt khó vươn lên; trong nội bộ phụ nữ còn có tình trạng níu kéo, chưa ủng hộ nhau.

- Cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ  xã, phường, thị trấn tuy được phân bổ nhiều hơn trước nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay; công tác tham mưu của các cấp Ban thiếu chủ động, chưa sâu sát, kịp thời.

- Công tác kiểm tra, đánh giá, giám sát, rút kinh nghiệm việc thực hiện Nghị quyết, pháp luật chính sách về bình đẳng giới chưa được chú trọng đúng mức; công tác tham mưu, phối hợp xử lý những tình huống phát sinh đôi lúc chưa kịp thời, chưa có giải pháp hữu hiệu để góp phần cùng với Đảng, Nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho phụ nữ; mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên về giới và bình đẳng giới còn mỏng.

2. Bài học kinh nghiệm

Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

a) Để thực hiện tốt Nghị quyết số 11- NQ/TW, các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quan điểm, nội dung, giải pháp của Nghị quyết.

b) Các Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp phải thật sự phát huy vai trò, vị trí, chủ động thực hiện công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về công tác phụ nữ thời kỳ mới.

c) Quan tâm, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các lớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực hoạt động, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

d) Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ và cán bộ của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp, đặc biệt là cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức; phát huy được trí tuệ tập thể, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất.

đ) Không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, đa dạng hóa các loại hình phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của phụ nữ, tôn trọng và phát huy nội lực của phụ nữ.

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 11-NQ/TW

I. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1. Tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trong đó, tập trung công tác quy hoạch, bố trí dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các trung tâm và cụm khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung đã góp phần đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng cường quan hệ, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản xuất, phục vụ ngày càng tốt nhu cầu phát triển của xã hội.

          2. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, phát thanh truyền hình, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách xã hội có bước phát triển, đời sống Nhân dân nhìn chung từng bước được cải thiện, an ninh quốc phòng được tăng cường, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững.

          3. Trong những năm qua, phụ nữ cả nước nói chung và phụ nữ tỉnh nhà nói riêng đã tích cực triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước với niềm tin và sự sáng tạo, phát huy tốt truyền thống đoàn kết, tham gia tích cực vào các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước của địa phương, thực hiện phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; các cấp hội không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm vận động đông đảo phụ nữ ở mọi lĩnh vực thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng gia đình bình đẳng, no ấm, hạnh phúc, góp phần to lớn vào thành quả chung của tỉnh nhà.

          4. Những thành tựu đã đạt được trong các năm qua là kết quả của sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh, sự điều hành năng động của các cấp, các ngành, sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể mà trong đó có vai trò, vị trí và sự tham gia năng động, sáng tạo, có hiệu quả của phụ nữ.

5. Một số khó khăn trong công tác phụ nữ như: trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ và nghề nông; mức sống, mức hưởng thụ vật chất, tinh thần của phụ nữ giữa thành thị và nông thôn còn nhiều chênh lệch; tình trạng phụ nữ thiếu việc làm, việc làm không ổn định, phải tìm việc làm ở địa phương khác; phụ nữ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tình trạng bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, lấy chồng nước ngoài còn diễn biến phức tạp, một bộ phận phụ nữ còn tự ti mặt cảm; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ còn ít; công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ (nhất là cơ sở) chưa được quan tâm đúng mức, vấn đề thực hiện chính sách đối với cán bộ nữ cơ sở còn khó khăn.

II. Nhiệm vụ và giải pháp

Để tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 11- NQ/TW đạt kết quả, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

1. Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và quần chúng Nhân dân về ý nghĩa, mục đích của Nghị quyết số 11- NQ/TW gắn với tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp.

2. Tiếp tục tăng cường chỉ đạo tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, thực hiện các nội dung của Luật Hôn nhân gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo hành gia đình đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân; thực hiện tốt các chính sách liên quan đến giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ như: công tác quy hoạch và bố trí, sử dụng cán bộ nữ nhằm nâng cao tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ trong các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực chính trị; tạo điều kiện cho cán bộ nữ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; thúc đẩy vai trò phụ nữ tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, vì sự tiến bộ của phụ nữ.

3. Tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 11- NQ/TW hàng năm từ tỉnh đến cơ sở; qua đó, rà soát, bổ sung vào chương trình thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tế ở địa phương.

4. Tăng cường công tác nghiên cứu các văn bản về chính sách liên quan đến bình đẳng giới, công tác phụ nữ, về quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe, phát huy trí tuệ, năng lực của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đảm bảo sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ…

5. Kiện toàn, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp, phát huy vai trò trong việc tham mưu chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11- NQ/TW; tạo điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí để Ban hoạt động có hiệu quả; kịp thời giải quyết những đề xuất, kiến nghị liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh.

6. Tiếp tục chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường công tác cơ sở, chăm lo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của Nhân dân; tăng cường công tác phối hợp tuyên truyền, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới, từng bước xóa bỏ bạo lực, thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm, trong đào tạo nghề, xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no; đồng thời, đẩy mạnh phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” và phong trào “2 giỏi” trong nữ cán bộ, công nhân viên chức lao động; tập hợp, khuyến khích ngày càng đông đảo phụ nữ tỉnh phát huy tiềm năng, trí tuệ, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

III. Đề xuất, kiến nghị

1. Đối với Trung ương: tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về công tác cán bộ nữ, có cơ chế hỗ trợ cán bộ nữ nhằm động viên, khích lệ phụ nữ tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, đất nước, xóa bỏ tâm lý e ngại, tự ti, an phận, tạo mọi điều kiện cho phụ nữ phát triển, phấn đấu vươn lên.

2.     Đối với Tỉnh ủy:

          a) Tiếp tục tập trung chỉ đạo và tăng cường nguồn lực hơn nữa để thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu chưa đạt về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

b) Quan tâm đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, có cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt là cán bộ nữ ở cơ sở xã, phường, thị trấn được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

          Trên đây là Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”./.

 

Nơi nhận:         

- Ban Dân vận Tỉnh ủy;

- Sở LĐTBXH;

- Lưu: VT, KGVX, DM.

d\văn - xã 2017\XD\CVUB\T3\

Bao cao giai doan 1 22

 

                                                   

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

          Đồng Văn Thanh