</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 29/BC-UBND Hậu Giang, ngày 12 tháng 3 năm 2018

BÁO CÁO

Tổng kết, đánh giá thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Thực hiện Công văn số 298/BNV-CCVC ngày 22 tháng 01 năm 2018 của Bộ Nội vụ về việc tổng kết, đánh giá thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Ủy ban nhân dân tỉnh xin báo cáo như sau:

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THI HÀNH

1. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Ngay sau khi Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức được Quốc hội thông qua, Hội đồng đã tổ chức 02 Hội nghị triển khai sâu rộng đến đội ngũ báo cáo viên pháp luật tỉnh, thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; các sở, ban, ngành tỉnh; Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện và các đối tượng khác có liên quan. Qua đó, thu hút hơn 300 đại biểu và phân phát hơn 300 quyển luật cho đại biểu tham dự.

Ngoài ra, thông qua họp lệ cơ quan, sinh hoạt Ngày pháp luật, các sở, ban ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện triển khai sâu rộng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đến toàn thể công chức, viên chức đơn vị. Qua đó, giúp công chức, viên chức nhận thức rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực thi công vụ.

2. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật

Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác cán bộ, công chức, viên chức như sau:

- Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc ban hành Quy định phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức tỉnh Hậu Giang.

- Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang quy định phân cấp quản lý viên chức trên địa bàn tỉnh.

- Quyết định số 30/2016/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang sửa đổi Khoản 4, Điều 6 và điểm a Khoản 2 Điều 8 quy định phân cấp quản lý viên chức trên địa bàn tỉnh.

- Quyết định số 1627/QĐ-UBND ngày 18 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc kiện toàn Ban Giám sát xét tuyển viên chức ở các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.

3. Việc chấp hành các quy định của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quán triệt đầy đủ, kịp thời các quy định của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành đến toàn thể công chức, viên chức đơn vị. Chính vì vậy, các quy định về quyền, nghĩa vụ và những việc công chức, viên chức không được làm; Các quy định liên quan đến công chức, viên chức (tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, đánh giá, nghỉ hưu...), tại địa phương luôn đảm bảo thực hiện theo quy định.

4. Công tác kiểm tra, thanh tra việc thi hành Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức.

Hàng năm Sở Nội vụ tổ chức đoàn kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định về quản lý biên chế, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, đánh giá, nghỉ hưu… đối với các đơn vị trực thuộc trong các đợt kiểm tra công vụ hàng năm, báo cáo UBND tỉnh.

Phần thứ hai

NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ, BẤT CẬP

TRONG THI HÀNH LUẬT

Qua thực tiễn triển khai thực hiện, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức còn bộc lộ một số hạn chế sau: 

1. Về đối tượng được miễn trách nhiệm kỷ luật

- Trường hợp cán bộ, công chức được miễn trách nhiệm theo quy định tại Điều 77 Luật Cán bộ, công chức chưa khái quát hết được các trường hợp mà cán bộ, công chức được miễn trách nhiệm trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ được giao. Trong các quy định của pháp luật hiện hành có đề cập đến sự kiện bất khả kháng với nghĩa là: sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Trong trường hợp này, người cán bộ, công chức không có lỗi, do đó, không thể truy cứu trách nhiệm kỷ luật với họ.

Ngoài ra, còn có trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết cũng cần được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, những trường hợp này lại không được đề cập trong Luật. Do đó, trong văn bản quy định chi tiết cần phải quy định rõ ràng hơn những trường hợp thuộc về bất khả kháng trong thi hành công vụ.

- Trong xử lý kỷ luật đối với cán bộ thực hiện Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý cán bộ, công chức (Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý cán bộ, công chức căn cứ vào Pháp lệnh cán bộ, công chức nhưng pháp lệnh này đã được thay thế bằng Luật cán bộ, công chức, bên cạnh đó Chính phủ đã có Nghị định hướng dẫn xử lý kỷ luật công chức nhưng cán bộ thì chưa có văn bản quy định).

2. Quy định về tuyển dụng không qua thi tuyển đối với công chức, viên chức còn bị vướng bởi các quy định liên quan

Việc áp dụng các Nghị định số 29/2012/NĐ-CP, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP bị vướng bởi các quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 150/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP. Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về xét tuyển đặc cách đối với viên chức thì người có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 03 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu vị trí việc làm cần tuyển dụng. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) thì thời hạn chuyển đổi vị trí công tác là 03 năm (đủ 36 tháng) đối với cán bộ, công chức, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.  Như vậy, một viên chức đã làm một công việc đủ 03 năm (đối với các vị trí thuộc danh mục phải chuyển đổi vị trí công tác) không thể có cơ hội để được tham gia xét tuyển đặc cách theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP vì đã phải chuyển đổi vị trí công tác khác và như thế sẽ không đảm bảo yêu cầu về kinh nghiệm trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng.

Tương tự, điểm c, khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP hướng dẫn về trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng quy định: người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu vị trí việc, làm cần tuyển dụng thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển đối với công chức. Như đã phân tích, trong trường hợp một công chức phải đảm nhận nhiệm vụ thuộc danh mục vị trí phải chuyển đổi vị trí công tác theo định kỳ thì khi chưa đủ thời gian 05 năm đã phải thực hiện việc chuyển đổi sang vị trí công tác mới và như vậy sẽ không thể đảm bảo yêu cầu về thời gian kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác để được xem xét tuyển dụng, tiếp nhận không qua thi tuyển (sau 03 năm đã phải chuyển đổi vị trí công tác và phải thực hiện nhiệm vụ tại vị trí công tác mới). Việc quy định tại các văn bản như trên còn bất hợp lý, hạn chế trong quá trình áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể như làm công tác kế toán, thanh tra…, hạn chế quyền lợi thiết thực của các đối tượng được thụ hưởng.

Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan theo hướng mở đối với các đối tượng phải thực hiện chuyển đổi vị trí công tác. Theo đó, nên quy định cộng dồn và bảo lưu thời gian mà trước đây công chức, viên chức đã thực hiện nhiệm vụ tại các vị trí trước khi thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác để làm cơ sở cho việc xem xét tuyển dụng không qua thi tuyển đối với các trường hợp này. Như vậy, sẽ đảm bảo quyền lợi và chế độ, sự công bằng trong việc xét tuyển dụng giữa các trường hợp có liên quan. 

3. Công tác bổ nhiệm

 Theo Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễm nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo quy định tuổi bổ nhiệm lần đầu không thống nhất đối với cán bộ, công chức và tuổi bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng, phó phòng cấp huyện với các văn bản của Đảng.

Phần thứ ba

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Đề nghị Bộ Nội vụ sớm tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễm nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo vì quy định tuổi bổ nhiệm lần đầu không thống nhất với các văn bản của Đảng và nêu cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện để được bổ nhiệm.

2. Đề nghị Bộ Nội vụ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn xử lý kỷ luật đối với cán bộ thay thế Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý cán bộ, công chức vì căn cứ vào Pháp lệnh cán bộ, công chức nhưng pháp lệnh này đã được thay thế bằng Luật Cán bộ, công chức và Chính phủ đã có Nghị định hướng dẫn xử lý kỷ luật công chức nhưng cán bộ thì chưa có văn bản quy định.

Trên đây là Báo cáo tổng kết, đánh giá thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang./.

 

Nơi nhận:                                                                   

- Bộ Nội vụ;                                                                                       - Sở Nội vụ;

- Lưu VP,TH,YP.

D\2018\BC\DB tong_ket_Luat_CBCC

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

Đồng Văn Thanh