Các dân tộc Việt Nam

1. DÂN TỘC BA NA

 

Tên tự gọi: Ba-na.

Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...

Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.

Dân số: 227.716 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Ba - na chưa có chữ viết riêng.

Nguồn gốc lịch sử: Dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên.

Địa bàn cư trú: Cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Việc làm ruộng nước ngày càng phát triển. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn đảm bảo nhu cầu cuộc sống.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Ba-na ăn cơm tẻ. Nam, nữ đều thích ăn trầu, hút thuốc lá cuốn và uống rượu cần.

: Ở nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng. Nhà Rông dựng lên giữa làng là nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng.

Hôn nhân: Từ xưa, hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng gia đình. Hình thức luân cư sau lễ cưới rất phổ biến. Kết thúc các chu kỳ luân cư (ở bên vợ rồi ở bên chồng), đôi vợ chồng ra ở riêng.

Tang ma: Khi có người chết thì thổ táng, lúc đoạn tang thì làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ và tượng mồ.

Lễ hội: Nhiều lễ hội gắn với chu kỳ sản xuất và vòng đời.

Tín ngưỡng: Người Ba-na thờ nhiều thần. Họ có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp. Hồn lúa được coi trọng. Một bộ phận theo đạo Công giáo và Tin lành.

Trang phục: Nam đóng khố, nữ quấn váy, nửa thân trên để trần hoặc mặc áo cánh ngắn chui đầu. Ngày lạnh, người Ba-na thường khoác thêm một tấm vải choàng qua đầu

Đời sống văn hóa: Người Ba - na có kho tàng dân ca phong phú, phổ biến là điệu hmon và roi. Nhạc cụ cũng rất đa dạng, độc đáo (bộ dây, bộ hơi và bộ gõ...). Trường ca, Truyện cổ của dân tộc Ba - na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

 

2. DÂN TỘC BỐ Y

Tên tự gọi: Bố Y

Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia.

Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.

Số dân: số 2.273 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).

Nguồn gốc và lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm.

Địa bàn cư trú: Người Bố Y sống tập trung tại các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang.

Đặc điểm kinh tế: Chủ yếu là canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó, ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ...

Phong tục tập quán

Ăn: Người Bố Y ăn ngô xay nhỏ, luộc chín dở rồi mới đồ lên gọi là mèn mén.

: Họ ở nhà đất có 2 mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất trình. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.

Phương tiện vận chuyển: Đồng bào vận chuyển chủ yếu là địu và gánh.

Hôn nhân: Vai trò của ông mối trong hôn nhân luôn được coi trọng. Nét độc đáo của người Bố Y là chàng rể không đi đón dâu, cô em gái của chàng rể dắt con ngựa hồng đẹp mã để chị dâu cưỡi lúc về nhà chồng.

Tang ma: Người Bố Y chỉ cúng một giỗ đầu. Thời kỳ tang chế là ba năm, con trai không được uống rượu, con gái không được mang đồ trang sức, đoạn tang mới được tính chuyên cưới xin.

Lễ hội: Người Bố Y có nhiều lễ hội (lễ cơm mới, lễ lên nhà mới...) và lễ tết ( Nguyên đán, Rằm tháng giêng, 30 tháng giêng, Hàn thực, Ðoan ngọ, Mùng 6 tháng 6, Rằm tháng 7...)

Tín ngưỡng: Trên bàn thờ đặt 3 bát hương thờ trời, táo quân và tổ tiên. Dưới gầm bàn thờ đặt một bát hương thờ thổ địa. Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ.

Trang phục: Trước đây, phụ nữ mặc váy xoè như váy của phụ nữ Hmông. Ngày nay, họ mặc giống như người Nùng trong cùng địa phương. Phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời.

Đời sống văn hóa: Người Bố Y có những lễ hội (lễ cơm mới, lễ lên nhà mới...) Ở nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca bằng tiếng Hán, được phụ hoạ bằng kèn lá.

 

3.DÂN TỘC BRÂU

 Tên tự gọi: Brâu

Tên gọi khác: Brao.

Số dân: 397 người (Tổng cục Thống kê 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc và lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm.

Địa bàn cư trú: Người Brâu ở Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Đặc điểm kinh tế: Người Brâu trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Trong làng có lò rèn để tu sửa nông cụ.

Phong tục tập quán

Ăn uống: Người Brâu ăn cơm tẻ và cơm lam, thích uống rượu cần, hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

: Người Brâu ở nhà sàn nhỏ. Các nhà xếp theo dáng hình tròn và hướng vào một nhà chung ở giữa. Nhà này là nơi sinh hoạt chung của bản.

Phương tiện vận chuyển: Vận chuyển chủ yếu bằng gùi.

Hôn nhân: Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, do nhà trai chi phí. Sau hôn nhân, tục ở rể kéo dài 4 - 5 năm, sau đó là thời gian luân cư của hai vợ chồng .

Tang ma: Theo tập quán thổ táng, quan tài chôn nửa chìm, nửa nổi rồi dựng nhà mồ để tùy táng. Xung quanh nhà mồ được trang trí những mặt nạ bằng gỗ.

Lễ hội: Lễ ăn mừng cơm mới là lễ hội lớn nhất. Ngoài ra còn có lễ hội mừng nhà Rông mới.

Tín ngưỡng: Thờ đa thần, gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Trang phục: Nam vận khố, nữ quấn váy tấm, đeo nhiều vòng (cổ, tay, chân). Mùa hè đều ở trần, mùa lạnh khoác thêm một tấm vải.

Đời sống văn hóa: Văn chương truyền miệng có nhiều thể loại, phổ biến là huyền thoại về thần sáng tạo. Dân ca có những bài ca về đám cưới, hát ru, hát đối đáp. Nhạc cụ cổ truyền có đàn klôngpút gọi là táp đinh bổ, nhưng loại được sử dụng thường xuyên, chủ yếu vẫn là bộ chiêng đồng với ba thang âm là coong, mam và tha.

 

4.BRU-VÂN KIỀU

 Tên tự gọi: Bru

Tên gọi khác: Bru-Vân Kiều.

Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.

Dân số: 227.716 người (Tổng cục thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á)

Lịch sử và nguồn gốc: Là cư dân có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.

Địa bàn cư trú: Vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính. Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến. Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Bru-Vân Kiều ăn cơm tẻ, canh rau nấu lẫn với gạo thường ngày, thích các món nướng; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần, hút thuốc lá bằng tẩu.

: Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.

Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.

Hôn nhân: Nhà trai tổ chức cười vợ cho con khi có đủ đồ sính lễ (không thể thiếu thanh kiếm và chiếc nồi đồng). Sau khi cười, thực hiện lễ "khơỉ' (công nhận cô dâu là thành viên trong dòng họ nhà chồng) nữa.

Tang ma: Người chết sau 2, 3 ngày mới được đưa ma và chôn vào bãi mộ chung của làng. Quan tài bằng thân cây khoét  rỗng, nhiều thứ từ đồ vật dụng, hạt giống được khâm liệm cùng.

Lễ hội: Nhiều lễ hội liên quan đến chu kỳ sản xuất (Mừng lúa mới, được mùa, phát rẫy, rước hồn lúa..) và vòng đời (sinh ra, trưởng thành, mất đi..)

Tín ngưỡng: Chú trọng thờ cúng tổ tiên và thờ đa thần (Yang, thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v...

Trang phục: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.

Đời sống văn hóa: Ca dao, tục ngữ, truyện cổ của người Bru-Vân Kiều rất phong phú. Dân ca có nhiều làn điệu độc đáo(vừa hát vừa kể hay "sim"). Nhạc cụ truyền thống phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...

 

5.DÂN TỘC CHĂM

 

Tên gọi chính thức: Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời.

Các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Pôông. Chà Và Ku, Chàm Châu Đốc.

Số dân: 161.729 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm có chữ viết riêng, dựa trên hệ thống văn tự Sascrit.

Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số địa phương khác (Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh).

Nguồn gốc lịch sử: Người Chăm vốn ở duyên hải miền Trung từ rất lâu đời.

Đặc điểm kinh tế: Người Chăm có truyền thống trồng lúa nước và trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nghề dệt vải, làm gốm cổ truyền nổi tiếng. Trao đổi sản phẩm, buôn bán phát triển.

Phong tục tập quán

Ăn: Đồng bào ăn cơm tẻ, thích uống rượu cần, ăn trầu.

: Người Chăm Ở nhà sàn thấp và nhà trệt trong một quần thể kiến trúc trên một diện tích. Nhà cửa đơn sơ, làng mạc kín đáo. Gia đình người Chăm vẫn theo chế độ mẫu hệ.

Phương tiện vận chuyển: Người Chăm thường sử dụng các xe thô sơ dựa vào sức kéo của súc vật. Trên biển đã từng có những đội thuyền chiến và đội th ương thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Hôn nhân : Nhà gái cười chồng cho con, Sau khi cười, con trai ở rể.

Tang ma: Người Chăm có tục thổ táng và hỏa táng tùy theo tôn giáo.

Lễ hội: thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm (lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. .). Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch).

Tín ngưỡng: Người Chăm theo hai tôn giáo chính: đạo Bà la môn ( khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận). Một số theo Hồi giáo Bà ni hoặc Hồi giáo lslam.

Trang phục: Đàn ông quấn xà rông, áo cánh ngắn cài khuy phía trước, áo xẻ ngực. Đàn bà quấn váy tấm, mặc áo dài chui đầu có thắt lưng và thường có dải khăn quàng chéo trước ngực.

Đời sống văn hóa: Nền văn học cổ Chăm rất phóng phú và đặc sắc với các bia kí, kinh thánh, huyền thoại. sử thi anh hùng, truyện cổ. Kiến trúc tháp, thánh đường là kiến trúc độc đáo và tiêu biểu. Nhạc cổ truyền có kèn saranai, trống paranưng, trống kinăng, đàn nhị và những bộ chiêng đồng.

 

6. DÂN TỘC CHƠ RO

 

Tên tự gọi: Chơ Ro

Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng.

Dân số: 26.855 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc lịch sử: Họ là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Ðông Dương.

Địa bàn cư trú: sống tập trung ở vùng núi thấp thuộc tây nam và đông nam tỉnh Ðồng Nai. Rải rác tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Bà Rịa Vũng Tàu.

Đặc điểm kinh tế: Người Chơ-ro chủ yếu làm rẫy, canh tác theo lối phát đốt rồi chọc lỗ tra hạt. Hiện nay, ngoài lúa rẫy, một số nơi đã làm ruộng nước có trâu cày. Việc săn bắn, hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Chơ-ro ăn cơm tẻ là chính, hút thuốc lá sợi bằng tẩu. Thức uống có rượu cần. Nam nữ đều ưa thích ăn trầu cau.

: Trước đây, họ ở trên những ngôi nhà sàn cao, cửa ra vào mở ở đầu hồi. Ðến nay phổ biến ở nhà đất. Họ đã tiếp thu lối kiến trúc nhà cửa người nông dân Nam Bộ

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu dùng gùi đan bằng tre, mây, cõng ở trên lưng.

Hôn nhân: Việc lấy chồng, lấy vợ của người Chơ-ro tồn tại cả hai hình thức: nhà trai đi hỏi vợ hoặc nhà gái đi hỏi chồng. Hôn lễ tổ chức tại nhà gái, sau lễ thành hôn thì cư trú phía nhà vợ, sau vài năm sẽ dựng nhà ra ở riêng.

Tang ma: Tập quán thổ táng. 

Lễ tết: Ngày cúng thần lúa, thần rừng hàng năm đượctổ chức trọng thể.

Tôn giáo, tín ngưỡng: Người Chơ-ro bái vật giáo, tôn sùng các thần linh.

Trang phục: Xa xưa đàn ông đóng khố, đàn bà quấn váy tấm. Mùa hè ở trần hay mặc áo cánh ngắn, mùa lạnh thường khoác trên mình một tấm chăn. Phụ nữ thường đeo ở cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc hoặc vòng đồng, vòng bạc hay nhôm.

Đời sống văn hóa: Vốn văn nghệ dân tộc của người Chơ-ro phong phú. Nhạc cụ có bộ chiêng 7 chiếc, đây đó còn thấy đàn ống tre, có ống tiêu và một số người còn nhớ lối hát đối đáp trong lễ hội.

 

 7. DÂN TỘC CHU RU

 

Tên tự gọi: Chu Ru

Tên gọi khác: Chơ-ru, Kru, Thượng

Số dân: 19.314 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Một số ít ở gần dân tộc Cơ-ho có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me.

Nguồn gốc và lịch sử: Họ là một bộ phận trong cộng đồng Chăm di chuyển lên cao nguyên, sống biệt lập và trở thành một nhóm tộc người riêng.

Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Lâm Đồng. Một số ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

Đặc điểm kinh tế: Người Chu-ru định cư, định canh trồng lúa nước là chính. Việc săn bắt, hái lượm vẫn còn là hoạt động thường xuyên. Ngoài ra đồng bào còn chăn nuôi trâu, bò, gia cầm và nghề đan tre, mây.

Phong tục tập quán

Ăn uống: Đồng bào ăn cơm tẻ, uống rượu cần, thích hút thuốc lá sợi bằng điếu khan.

: Người Chu-ru ở nhà sàn dài truyền thống làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng.

Phương tiện vận chuyển : Chủ yếu là gùi đeo qua vai.

Hôn nhân: Phụ nữ đi hỏi và cưới chồng. Sau đám cưới có tục đi ở dâu mười ngày rồi mới rước rể về nhà vợ.Gia đình nhỏ được tổ chức chặt chẽ theo chế độ mẫu hệ.

Tang ma: Người chết được thổ táng tại nghĩa địa của làng.

Lễ hội: Cùng với chu kì canh tác lúa nước, mỗi năm có nhiều nghi lễ nông nghiệp như: cúng thần lúa khi gieo hạt, cúng thần đập nước, thần mương nước khi làm thủy lợi, cúng tạ ơn thần lúa sau vụ thu hoạch…

Tín ngưỡng: Người Chu-ru thường thờ cúng những người trong gia đình đã mất ở ngoài nghĩa địa, đồng thời cũng tôn thờ nhiều thần với nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp.

Trang phục: Nữ thường quấn váy tấm, nửa thân trên choàng vải để hở một bên vai. Đàn ông quấn xà rông như người Chăm, mặc áo dài xẻ nách như người Việt ở Trung Bộ.

Đời sống văn hóa: Văn chương truyền miệng khá phong phú với các thể loại: ca dao, tục ngữ, truyện cổ, huyền thoại...Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: kwao, terlia.

 

8. DÂN TỘC CHỨT

 Tên tự gọi: Chứt.

Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách.

Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.

Dân số:  6.022 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc lịch sử: Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Địa bàn cư trú: Quê hương của người Chứt vẫn Ở Bố Trạch, Quảng Trạch. Sau này họ di tán phần lớn lên vùng núi Minh Hóa, BốTrạch.

Đặc điểm kinh tế: Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa. Chăn nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Ðan lát chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Ðôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.

Phong tục tục quán

Ăn: Lương thực chủ yếu là ngô, sắn. Ngày ăn hai bữa trưa và tối. Những năm mất mùa, họ phải ăn bột báng (bột nhúc) đồ thay cơm quanh năm.

: Họ quen ở trong các túp lều dùng dây buộc, dùng cột ngoãm hay ở trong các hang đá, mái đá. Ngày nay, họ sống tập trung ở các bản nhỏ trong các thung lũng, tập hợp thành Cà Vên (làng)

Hôn nhân: Trai gái được tự do tìm hiểu yêu đương. Trước lễ cưới thường có dạm hỏi . Lễ vật dẫn cưới phải có thịt khỉ sấy khô .

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến là gùi có dây đeo vai, vác hoặc người kéo.

Tang ma: Nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.

Lễ hội: Các nghi lễ nông nghiệp thường được thực hiện như lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa.

Tín ngưỡng: Tổ tiên được thờ tại nhà tộc trưởng. Tin vào các loại ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp.... trong đó quan trọng nhất là ma làng.

Trang phục: Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay đồng bào mặc giống như người Việt.

Đời sống văn hóa: Người Chứt thích dùng đàn, sáo, hát các giai điệu khác nhau. Họ có nhiều truyện cổ tích, thần thoại, đặc biệt truyện kể về sự khai thiên lập địa và sinh ra con người.

 

9. DÂN TỘC CỜ HO

  Tên tự gọi: Cơ Ho

Tên gọi khác: Xrê, Nốp (Tu nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring.

Dân số: 166.112 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người Cơ-ho thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Gần đây người Cơ-ho mới có chữ viết theo mẫu chữ Latinh.

Địa bàn cư trú: Người Cơ-ho cư trú lâu đời và sống tập trung ở các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Đạ Hu Oai, Lạc Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Đặc điểm kinh tế: Người Cơ-ho sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa trên rẫy. Một số nơi trồng lúa. Gần đây, người Cơ-ho còn trồng cây công nghiệp như dâu tằm, cà phê... Nghề đan lát, rèn, dệt vải, làm gốm vẫn được duy trì.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Cơ-ho ăn cơm nấu bằng nồi đất, ăn ngày 3 bữa với canh rau rừng và các loại gia vị như tiêu, ớt...Đồ uống là nước suối đựng trong vỏ trái bầu. Rượu cần được dùng trong các dịp lễ tiệc, hội hè.

Ở: Nhà ở của người Cơ-ho là nhà sàn dài, mái lợp tranh, phía trước cửa nhà có cầu thang lên xuống. Nhiều nhà quây quần lại thành làng.

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi đeo qua hai vai là phương tiện vận chuyển hàng ngày.

Hôn nhân: Phụ nữ chủ động trong hôn nhân. Sau hôn lễ, người đàn ông về ở nhà vợ, con mang họ của mẹ.

Tang ma: Có tục chia của cho người chết và làm lễ bỏ mả.

Tín ngưỡng: Người Cơ-ho thờ đa thần: Thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Núi, thần Sông, thần Lúa...

Trang phục: Ngày thường, nam giới đóng khố, nữ giới mặc váy ngắn, khi trời lạnh quấn thêm khăn. Trang sức thường dùng là vòng cổ, vòng tay, khuyên căng tai.

Đời sống văn hóa: Vốn văn học nghệ thuật dân gian Cơ-ho rất phong phú. Thơ ca giàu trữ tình và đầy nhạc tính. Một số vũ khúc cổ truyền thường được diễn trong các lễ hội. Các nhạc cụ truyền thống như bộ cồng chiêng 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ống tre (Kơrla), trống (Sơgơr)... có khả năng hòa âm với lời ca hoặc độc tấu.

 

10. DÂN TỘC CỜ LAO

 Tên tự gọi: Cơ Lao

Tên gọi khác: Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề

Nhóm địa phương: Cơ Lao Trắng, Cơ Lao Xanh, Cơ Lao Đỏ.

Dân số: 2.636 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Người Cơ Lao nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai. Nhiều người biết chữ Hán, dùng chữ Hán để cúng lễ.

Địa bàn cư trú: Người Cơ Lao cư trú chủ yếu ở Đồng Văn, Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang.

Nguồn gốc lịch sử: Người Cơ Lao nhập cư vào Việt Nam khoảng 200 năm nay.

Đặc điểm kinh tế: Đồng bào thường trồng ngô, lúa mạch trên hốc đá với công cụ sản xuất thô sơ như cày, cuốc, nạo cỏ. Một bộ phận làm ruộng bậc thang, dùng trâu để cày bừa. Đồng bào nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, rèn và làm đồ gỗ.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Cơ Lao ăn bột ngô đồ (mèn mén) hoặc ăn cơm, quen dùng bát, thìa muôi bằng gỗ.
Ở: Người Cơ Lao ở nhà đất lợp tranh, đầu vách trình tượng hay vách ván thưng. Nhà ở quy tụ thành từng bản nhỏ, kín đáo và cũng thường có tường đá xếp ở xung quanh.

Phương tiện vận chuyển: Người Cơ Lao thường dùng ngựa thồ và mang túi vải

Hôn nhân: Người Cơ Lao có tục ở rể. Trong lễ cưới, chú rể khoác khăn đỏ. Tục kéo vợ còn tồn tại đến nay.

Tang ma: Khi chết cúng hồn người chết hai lần: lễ chôn cất và lễ làm chay.

Tín ngưỡng: Người Cơ Lao thờ tổ tiên 3 - 4 đời, bên cạnh đó còn thờ thần Đất ở nhiều gia đình, nhiều bản làng.

Trang phục: Nữ mặc quần, áo dài năm thân, cài khuy nách, dài quá gối, trước ngực áo, mép áo, tay áo thường ghép màu, thường quấn xà cạp ở chân.

Đời sống văn hóa: Người Cơ Lao có truyện kể dân gian, truyện cổ. Đồng bào thường hát đối trong ngày lễ và thường thổi sáo.

 11. DÂN TỘC CƠ TU

 Tên tự gọi: Cơ Tu

Tên gọi khác: Ca-tu, Ka-tu

Dân số: 61.588 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Cơ-tu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Gần đây mới có chữ viết theo mẫu chữ La tinh.

Địa bàn cư trú: Người Cơ-tu sống lâu đời trên vùng núi Trường Sơn, tập trung tại miền núi tỉnh Quảng Nam, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đặc điểm kinh tế: Người Cơ-tu làm rẫy là chính, mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ. Vật nuôi là trâu, lợn, dê, gà. Nguồn thực phẩm hàng ngày còn do săn bắt và hái lượm dem lại. Nghề thủ công có đan lát, gốm, dệt truyền thống với kĩ thuật dệt hoa văn bằng hạt chì và hạt cườm.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Cơ-tu ăn cơm lẻ, cơm nếp. Thịt cá thường được ướp sấy hoặc làm chua trong các ống tre, nứa gác bếp để dự trữ. Nam, nữ ăn riêng và thường ăn bốc. Uống có nhiều loại như rượu cần, rượu sắn, rượu gạo, rượu tà vạc (chế từ cây rừng)...

Ở: Nhà ở quây theo hình bầu dục thành làng, có ngôi nhà chung gọi là gươl (nhà rông). Người Cơ-tu ở nhà sàn. Nhà có mái tròn hình mui rùa, đầu đốc có trang trí khau cút.

Hôn nhân: Người Cơ-tu có chế độ một vợ một chồng, nhưng có quan hệ hôn nhân một chiều giữa hai dòng họ. Vợ góa lấy anh hoặc em chồng quá cố. Khi lấy vợ phải qua các nghi thức, khi đã khá giả thường tổ chức cưới thêm một lần nữa.

Tang ma: Người Cơ-tu thường dựng nhà mồ cho người chết. Chôn cất xong là bỏ mả ngay. Sau 5 - 10 năm, người ta làm lễ dồn mồ. Đối với những người chết trong dòng họ chôn chung vào một huyệt lớn.

Tín ngưỡng: Người Cơ-tu thờ cúng các vị Thần.

Trang phục: Đàn ông thường đóng khố, cởi trần. Đàn bà mặc váy ống, nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếu váy ngắn thì mặc áo không có tay. Người Cơ-tu ưa chuộng bộ y phục được dệt hoa văn hạt chì hoặc hạt cườm, đeo vòng ở cổ, tay, tai.

Đời sống văn hóa: Người Cơ-tu rất nổi tiếng với các điệu múa phản ánh tinh thần thượng võ của dân tộc. Nghệ thuật điêu khắc và trang trí truyền thống cũng rất độc đáo với những bức vẽ, chạm khắc ở nhà gươl, ở cổng làng và các bức tượng xung quanh các ngôi nhà mồ.

 

12.DÂN TỘC CỐNG

  Tên tự gọi: Cống

Tên gọi khác: Xắm khống, Phuy A.

Dân số: 2.029 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Cư trú: Huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu. Hiện nay, phần lớn người Cống cư trú ven sông Đà

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng). Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày.

Nguồn gốc lịch sử: Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang.

Đặc điểm kinh tế: Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương cuốc, ruộng. Hái lượm còn giữ vai trò quan trọng. Người Cống không quen dệt vải, chỉ trồng bông để đổi lấy vải của các dân tộc khác. Họ giỏi đan chiếu mây nhuộm đỏ, các đồ đựng bằng tre nứa như gùi đeo, giỏ đựng cơm, rương hòm... Chuyển xuống định cư ven sông Ðà, nên người Cống quen dần với việc sử dụng thuyền trên sông.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Cống ăn cơm nếp và cơm tẻ.

: Nhà sàn ba hay bốn gian, chỉ có một cửa ra vào, một cửa sổ ở gian giữa, chạy dọc theo vách mặt chính của nhà có thêm một chiếc sàn nhỏ. Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn. Tính cộng đồng làng bản cao. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội.

Phương tiện vận chuyển: Người Cống quen sử dụng thuyền đi lại trên sông Ðà và gùi đeo qua trán khi đi nương, đi rẫy.

Hôn nhân:  một vợ một chồng chặt chẽ. Không có đa thê, ly dị trong xã hội truyền thống. Hôn lễ được tổ chức sau nhiều năm chung sống, vào lúc nông nhàn.

Tang ma: Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với tổ tiên. Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản. Mười hai ngày sau khi chôn người chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà. Con cái để tang cha mẹ bằng cách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khi cúng cơm mới, mới được bỏ.

Lễ hội: Người Cống có lễ cúng tập thể mở đầu vụ gieo trồng lúa và một số lễ thức khác nữa nhằm cầu mong mùa màng tươi tốt, nhà nhà no đủ.

Tín ngưỡng: Cùng với việc cúng tổ tiên 2, 3 đời theo phụ hệ là việc cúng ma bố mẹ vợ vào dịp tết; thờ cúng liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Trang phục: Y phục của người Cống giống người Thái. Một ít gia đình còn giữ lại vài bộ y phục truyền thống bằng vải dệt của người Lào.

Đời sống văn hóa: Người Cống thường hát múa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới. Họ có kho tàng văn học truyền miệng phong phú (thần thoại, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao).

 13. DÂN TỘC COR

 Tên tự gọi: Cor, Col.

Tên gọi khác: Cua, Trầu, Khùa, Bồng Miêu.

Dân số: 33.817 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc, lịch sử: Người Co cư trú lâu đời ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam.

Địa bàn cư trú: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam.

Đăch điểm kinh tế: Canh tác lúa rẫy là chủ yếu. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Chăn nuôi trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có. Nghề đan lát phát triển. Việc hái lượm và săn bắt có ý nghĩa quan trọng.

Phong tục tập quán

Ăn: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Đồng bào có tục ăn trầu, hút thuốc.

:  Nhà truyền thống của đồng bào là nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi.

Phương tiện vận chuyển: Người Co có các loại gùi tự đan dùng để vận chuyển rất tiện lợi, thích hợp với điều kiện đất dốc, rừng núi và suối. Mọi thứ đều bỏ trong gùi và gùi được cõng trên lưng, có 2 quai quàng qua đôi vai.

Hôn nhân: Hình thức hôn nhân cư trú đằng chồng là phổ biến. Ðám cưới đơn giản, gọn nhẹ.

Tang ma: Quan tài gỗ, đẽo theo kiểu độc mộc. Người chết được "chia của" và chôn trong bãi mộ của làng, đặt không xa chỗ ở. Tang gia cho người mới chết

Lễ hội: Người Co có nhiều lễ, lớn nhất là lễ có đâm trâu tế thần - đây cũng là ngày hội lớn trong làng.

Tín ngưỡng: Những đỉnh núi cao được người Co gọi là núi Ông núi Bà. Họ cho rằng có "thần linh" trú ngụ ở đó. Hệ thống "ma" và "thần" rất đông: ma người chết bình thường, ma người chết bất bình thường, ma quế, ma cây đa, ma nước, thần bếp lửa..

Trang phục: Theo truyền thống, nam đóng khố, ở trần, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng. Phụ nữ thích quấn nhiều chuỗi hạt cườm quanh đầu, cổ tay, cổ chân, trước ngực và quanh thắt lưng.

Đời sống văn hóa: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến. Nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái "gu" trong lễ hội đâm trâu.

 14. DÂN TỘC GIAO

Tên tự gọi: Dao

Tên gọi khác: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng), Mán.

Nhóm địa phương: Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, chữ viết riêng là nôm Dao.

Nguồn gốc lịch sử: Người Dao chuyển cư sang Việt Nam từ thế kỷ XII.

Địa bàn cư trú: Tập trung cư trú tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình

Đặc điểm kinh tế: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê. Nghề trồng bông, dệt vải , rèn, nghề thợ bạc phổ biến...

Phong tục tập quán

Ăn: Ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Đồng bào thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Thôn xóm phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Hôn nhân: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Tang ma: Theo phong tục, tang ma phải có thày tào chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt.  Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. Một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Tín ngưỡng: Người Dao cúng thờ cúng tổ tiên, vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo.

Trang phục: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm đội khăn khác nhau. Áo có hai loại, áo dài và áo ngắn. Phụ nữ Dao mặc áo dài yếm, váy hoặc quần với màu sắc sỡ.

Đời sống văn hóa: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian phong phú (truyện cổ, bài hát, thơ ca...). Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

 

15. DÂN TỘC Ê ĐÊ

 Tên tự gọi: Ê Đê

Tên gọi khác: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), Ê-đê, Êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê.

Số dân: 331.1941 (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Nguồn gốc lịch sử: Người Ê-đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền Trung Tây Nguyên.

Địa bàn cư trú: Chủ yếu tại tỉnh Ðắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hoà.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh là chủ yếu. Chăn nuôi (lợn, trâu, gà..) nhưng chủ yếu phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến (nghề đan lát mây tre, làm đồ gia dụng, trồng bông dệt vải..). Hiện nay đồng bào đã trồng nhiều loại cây công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (cà phê, hồ tiêu, đào lộn hột…)

Phong tục tập quán

Ăn: Ăn cơm tẻ bằng là chủ yếu. Muối ớt là thức ăn không thể thiếu. Đồng bào thích uống rượu cần, hút thuốc lá cuốn, ăn trầu.

Ở: Nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền là nhà truyền truyền thống. Gia đình được tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Các gia đình quần tụ theo đơn vị buôn.

Hôn nhân: Phụ nữ giữ vai trò chủ động. Người Ê-đê có tục ở rể và "nối dòng"

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan hoặc voi và thuyền độc mộc.

Tang ma: Đồng bào thực hiện tục thổ táng và bỏ mả.

Lễ hội: Nhiều lễ hội gắn liền với chu kỳ sản xuất nông nghiệp (Mừng cơm mới, mừng vụ mùa bội thu…) và đời sống (Mừng nhà rông mới). Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân…

Trang phục: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm vải. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ..

Đời sống văn hóa: Văn hóa dân gian phong phú, đặc sắc (sử thi, thần thoại, sử thi anh hùng, luật tục, cổ ngữ, tục ngữ). Nền âm nhạc Ê-đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng, các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô. Hình thức diễn xướng dân gian độc đáo (hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả và khan).

  

16. DÂN TỘC GIA RAI

 Tên tự gọi: Gia Rai.

Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray.

Nhóm địa phương: Chor, Hđrung, Aráp, Mthur, Tơbuân.

Số dân: 411.275 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ hệ Malayô Pôlynêixa (ngữ hệ Nam Ðảo).

Nguồn gốc lịch sử: Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên.

Địa bàn cư trú: Đồng bào sống tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đăc Lăk.

Đặc điểm kinh tế: Nguồn sống chính dựa vào rẫy với các loại cây lúa, bắp, đậu và hiện nay đồng bào đã làm ruộng nước. Ngoài chăn nuôi trâu bò, voi, lợn, săn bán và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình.

Phong tục tập quán

Ăn: Gạo tẻ là lương thực chính. Muối ớt là món không thể thiếu trong bữa ăn.

: Người Gia-rai cư trú theo làng hoặc buôn. Nhà sàn cho mỗi gia đình một vợ một chồng mẫu hệ, loại nhà sản nhỏ, mở cửa chính nhìn về hướng Bắc. Làng thường ở trên đồi hay dọc theo suối có hai loại.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có hai dây đeo qua vai là hình thức phổ biến. Ngoài ra có ngựa, voi để thồ và cưỡi. Voi còn dùng để kéo...

Hôn nhân: Theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Việc cưới xin trải qua nhiều thủ tục và lễ cưới được tiến hành ở cả hai gia đình.

Tang ma: Tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt. Người chết được quấn trong vải, đặt trong quan tài hoặc quấn bằng vỏ cây rồi đem chôn. thức lớn trong quá trình tang lễ.

Lễ hội: Lễ nghi lớn nhất là lễ bỏ mả, tạc tượng mồ, lễ lên nhà mới, mừng lúa mới.

Tín ngưỡng: Người Gia-rai theo vạn vật hữu linh, suy tôn nhiều vị thần.

Trang phục : Ðàn ông đóng khố vải trắng kẻ sọc nhiều màu (toai), ngày lễ đóng khố vải chàm dài; Áo màu đen cộc tay, hở nách, đường viền hoa văn chỉ màu chạy dọc hai sườn. Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu, áo ngắn, chui đầu,bó sát thân; váy chàm.

Đời sống văn hóa: Người Gia-rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di... thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Dân tộc Gia-rai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, đàn T'rưng, đàn Tưng nưng, đàn Klông pút. Họ đặc biệt ưa thích ca múa.

 

 17. DÂN TỘC GIÁY

 Tên tự gọi: Giáy.

Tên gọi khác: Giẳng, Nhắng, ...

Số dân: 58.617 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Họ có chữ viết riêng dựa trên chữ Hán (nôm Giáy).

Nguồn gốc lịch sử: Người Giáy đến Việt Nam khoảng 200 năm nay.

Địa bàn cư trú: Người Giáy cư trú tập trung ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu).

Đặc điểm kinh tế: Người Giáy trồng lúa nước trên ruộng bậc và chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, ngựa. Cùng với đó, họ còn có nghề thủ công: dệt, mộc, đan lát; buôn bán trao đổi qua những chợ phiên.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Giáy ưa dùng cơm tẻ đồ như đồ gạo nếp.

: Người Giáy ở nhà sàn là phổ biến, một số nơi ở nhà trệt và lợp ngói máng. Mỗi bản của người Giáy gồm mươi nhà quây quần trên triền núi, có bản đông đúc hàng trăm nóc nhà. Người Giáy tổ chức gia đình nhỏ, theo chế độ phụ hệ.

Phương tiện chuyển: Gùi, gánh, trâu kéo và ngựa thồ.

Hôn nhân: Phải qua nhiều nghi thức, vẫn còn có tục kéo vợ giống như người Hmông.

Lễ hội: Người Giáy ăn tết Nguyên Đán, Thanh Minh, Đoan Ngọ. . .

Tang ma: Mỗi đám tang kéo dài 6, 7 ngày. Con cái để tang bố mẹ một năm.

Tín ngưỡng: Người Giáy thờ cúng tổ tiên, bàn thờ đặt gian giữa.

Trang phục: Trước kia, phụ nữ mặc váy xòe, nay mặcquần, áo năm thân, xẻ nách bên phải, cài cúc có đường viền màu sắc. Đầu đội khăn hay vấn tóc. Đàn ông mặc quần áo chàm và cũng thường quấn khăn thêu ở đầu.

Đời sống văn hóa: Kho tàng văn nghệ gân gian của người Giáy khá phong phú như truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và hấp dẫn. Họ có bộ nhạc cụ bằng đồng dùng trong các nghi lễ.

 

18. DÂN TỘC GIẺ TRIÊNG

 Tên tự gọi: Giẻ Triêng

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy, Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong).

Số dân: 50.962 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Nguồn gốc lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Địa bàn cư trú: sinh sống tập trung tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam.

Đặc điểm kinh tế: Người Gié-Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Ngoài ra còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả. Người Gié-Triêng còn nuôi trâu, bò, lợn, gà. Họ giỏi đan lát, dệt vải.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Gié-Triêng ưa thích các món thịt, cá nướng. Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống. Nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Nhà trong làng thường được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông.

Phương tiện vận chuyển: Gùi là loại phương tiện vận chuyển phổ biến. Gùi có nhiều chủng loại khác nhau với nhiều kích cỡ, hình loại.

Hôn nhân: Trai gái tự tìm bạn đời, phụ nữ giữ vai trò chủ động. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Tín ngưỡng: Quan niệm con người, mọi vật, cũng như con vật, đều có siêu linh ẩn trú (thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa....). Dòng họ, gia đình dều có vật "thiêng" để cầu mùa gắn với canh tác lúa.

Trang phục: Theo truyền thống, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức như các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm..đeo cổ, tay, chân, tai.

Đời sống văn hóa: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định. Văn học dân gian phong phú với ca dao, tục ngữ, dân ca, truyện cổ. Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc

 

19. DÂN TỘC HÀ NHÌ

 Tên tự gọi: Hà Nhì

Tên gọi khác: Hà Nhì Già, U Ní, Xá U Ní.

Nhóm địa phương: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen

Dân số: 21.725 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến.

Nguồn gốc lịch sử: Cư dân Hà Nhì sinh sống rất sớm ở miền núi Bắc Bộ. Nhưng phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Địa bàn cư trú: Người Hà Nhì sống tập trung ở huyện Mường Tè, Lai Châu và huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Đặc điểm kinh tế: Người Hà Nhì chủ yếu trồng lúa trên nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Họ giỏi việc khai khẩn tạo nên những thửa ruộng trên sườn núi dốc. Chăn nuôi là một nghề phát triển. Các nghề thủ công như đan lát, dệt vải cũng rất phổ biến. Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Hà Nhì dùng cơm nếp và cơm tẻ.

: Ða số cư dân ở nhà đất, tường trình dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao. Tuỳ từng nơi, nhà có hàng hiên phía trước hoặc hàng hiên ở ngay trong nhà để tránh gió rét. Họ quen nấu cơm bằng chảo ở bếp lò xây trên nền đất.Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội.

Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì chủ yếu dùng gùi có dây đeo qua trán. Đi lại và vận chuyển bằng ngựa.

Hôn nhân: Trai gái được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Mỗi cặp vợ chồng, phải trải qua hai lần cưới. Lần cưới thứ hai được tổ chức khi họ làm ăn khấm khá và thường là khi đã có con.

Tang ma:  Khi trong nhà có người chết, tấm liếp của buồng người chết phải dỡ bỏ (hay rút một vài nan), phá bàn thờ tổ tiên, làm giường đặt tử thi ở bếp, chọn ngày giờ tốt để chôn.  Vào mùa mưa, quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn, sang mùa khô mới đem chôn.

Lễ hội: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.

Tín ngưỡng: Người Hà Nhì thờ cúng tổ tiên, chỉ thờ cúng theo gia đình và do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận

Trang phục: Nữ mặc áo dài cài cúc bên phải, đính bạc và đeo vòng bạc ở cổ, tay. Nam mặc quần chân què và áo có hai túi. Phong cách trang phục giống các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ. Điểm đáng chú ý nhất của trang phục người Hà Nhì là chiếc mũ đội đầu với loại dùng cho nam, nữ, trẻ em khác nhau.

Đời sống văn hóa: Đồng bào có kho tàng văn hóa dân gian phong phú (truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...); Dân ca ,dân vũ với nhiều loại nhạc cụ (đàn môi , khèn lá, sáo dọc, trống) được mọi lứa tuổi ưa thích.

  20. DÂN TỘC H’MÔNG

 Tên tự gọi: Hmông

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng

Nhóm địa phương: Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao.

Địa bàn cư trú: Người Hmông sống ở các tỉnh miền núi Bắc Bộ và một số ít ở miền núi tỉnh Nghệ An.

Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân có mặt sớm ở vùng núi Bắc Bộ nước ta.

Đặc điểm kinh tế: Người Hmông trồng ngô, lúa trên nương rẫy, ruộng bậc thang, ngoài ra còn trồng lanh, bông, lúa mạch. Trước đây trồng cây thuốc phiện. Công cụ sản xuất chủ yếu là chiếc cày. Chăn nuôi chủ yếu bò, lợn, gà, ngựa. Có một số nghề thủ công như rèn, đồ gỗ, đan lát, dệt vải.

Phong tục tập quán:

Ăn: Món ăn dân tộc 18 mèn mén (bột ngô đồ).

Ở: Nhà trệt ba gian, nhà trình tượng bằng đất, bưng ván hay vách nứa. Mỗi bản có 5 - 7 nhà.

Phương tiện vận chuyển: Ngựa thồ, gùi là phương tiện vận chuyển.

Hôn nhân: Những người cùng dòng họ không được lấy nhau. Nam nữ lựa chọn người yêu. Tục kéo vợ còn duy trì ở nhiều nơi

Tang ma: Người Hmông có tục quàn xác trong nhà, để xác ngoài trời trước khi chôn.

Tín ngưỡng: Người Hmông thờ cúng tổ tiên.

Trang phục: Phụ nữ mặc váy xếp nhiều nếp bằng lanh, áo xẻ ngực, mang tạp dề đằng trước và sau, quấn xà cạp ở chân, y phục được trang trí hoa văn. Đàn ông mặc áo xẻ ngực, quần chân què, màu chàm.

Đời sống văn hóa: Người Hmông có nhiều truyện cổ, nhiều loại nhạc cụ: khèn, kèn, trống và đặc biệt là kèn lá và đàn môi.

 

21. DÂN TỘC HOA

 Tên tự gọi: Hoa

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu

Nhóm địa phương: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xa Phống, Thồng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...

Dân số: 862.371 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Sử dụng chữ Hán.

Nguồn gốc lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỉ XVI kéo dài cho đến nửa đầu thế kỉ XX.

Đặc điểm kinh tế: Tại các thành phố, thị trấn, thị xã, người Hoa chủ yếu sống bằng nghề kinh doanh, buôn bán hoặc sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp (làm đồ gốm, làm giấy súc, làm nhang). Ở nông thôn người Hoa trồng lúa nước. Bộ phận người Hoa ở ven biển làm muối và đánh cá.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Hoa ăn cơm, nấu ăn rất giỏi. Nhiều loại trà là những đồ uống thông dụng trong mọi gia đình. Người Hoa cũng uống rượu trong ngày tết, lễ hội.

Ở: Nhà ở có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, xếp kiểu chữ Môn hay chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình tường đất, lợp ngói hay phên nứa... Ở thành thị, thường sống trong những khu phố riêng.

Hôn nhân: Đám cưới của người Hoa gồm nhiều lễ: lễ dạm, lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Trong hôn lễ, màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn, tốt đẹp. Có nhiều lễ vật tượng trưng cho hạnh phúc gia đình.

Tín ngưỡng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc và dòng họ, thờ cúng các vị thần bảo hộ và các vị thánh linh. Hệ thống chùa, miếu khá phát triển, là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Trang phục: Trang phục truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hoặc trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sường xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà phần dười đùi. Đàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng,vai liền có túi. Người Hoa thường đội mũ, nón hoặc mang ô.

Đời sống văn hóa: Trong sinh hoạt, văn hóa truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như: hát, múa, hài kịch… với nhiều loại nhạc cụ như tiêu, sáo các loại đàn. Hát "sơn ca" (sán co) là loại hình được nhiều người ưa chuộng. Trong những ngày lễ lớn và lễ hội thường có múa lân.

 

22. DÂN TỘC HRÊ

 

Tên tự gọi: Hrê

Tên gọi hhác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Lũy, Mọi Sơn Phỏng, Mọi Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi. Mọi Chòm,  Màn Thạch Bích.

Dân số: 127.420 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Hrê thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Gần đây, người Hrê có chữ viết theo mẫu chữ La tinh.

Địa bàn cư trú: Người Hrê đã sống tập trung chủ yếu tại miền Tây tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định, một số ít sống ở tỉnh Kon Tum.

Nguồn gốc lịch sử: Người Hrê sống lâu đời trên miền đất Tây Nguyên.

Đặc điểm kinh tế: Người Hrê làm ruộng, trồng lúa nước đã từ lâu. Một bộ phận sống dựa vào nương rẫy. Các gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Hái lượm và săn bắt có ý nghĩa đáng kể. Dệt vải đang bị mai một dần.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Hrê ăn cơm tẻ, ngày lễ có thêm cơm nếp. Đồng bào vẫn có thói quen ăn bốc. Đồ uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần. Hút thuốc lá và ăn trầu cũng rất phổ biến.

Ở: Người Hrê ở nhà sàn lợp tranh, vách nứa ngửa ra ngoài ở phía trên. Hai đấu đốc thường trang trí hình đôi sừng thú. Đầu hồi có sàn tiếp khách. Các nhà quây quần theo dáng hình tròn.

Phương tiện vận chuyển: Người Hrê dùng gùi ngoài ra còn gánh lúa và đội đồ vật trên đầu. Đàn ông khi đi rừng hay ra trận thường có gùi ba ngăn.

Hôn nhân: Tùy theo hoàn cảnh gia đình mà sau khi cưới chú rể sẽ về ở bên nhà mình hay bên nhà vợ. Vẫn còn có tập quán cho phép vợ góa lấy em trai chồng và chồng có thể lấy em vợ, kể cả lúc vợ còn sống. Đám cưới có nghi thức dâu và rể gắn kết với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi.

Tang ma: Quan tài người chết có hình chiếc thuyền độc mộc. Sau khi nhà mồ được dựng lên, gia đình chia của cải cho người chết. Người Hrê không để tang.

Tín ngưỡng: Người Hrê thờ nhiều thần.

Trang phục: Đàn ông Hrê đóng khố, cởi trần, búi tóc, chít khăn. Đàn bà mặc áo tứ thân, váy ống hai tầng, lớp trong dài, lớp ngoài ngắn và trùm khăn trên đầu. Nam nữ xưa đều búi tóc cài trâm hoặc lông chim và thường đeo vòng ở cổ tay, vòng ở chân.

Đời sống văn hóa: Người Hrê có nhiều truyện cổ, thích sáng tác thơ ca, ham mê ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Ka-choi và Ka-lêu là làn điệu dân ca quen thuộc của người Hrê. Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đàn Brook, Ching Ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lía, đàn ống bút của nữ giới, khèn ra-vai, ra-ngói, pơ-pen, trống...


23. DÂN TỘC KHÁNG

 Tên tự gọi: Kháng

Tên gọi khác: Xá Khao, Xá Xủa, Xá Don, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, Xá Bung và Quảng Lâm.

Dân tộc: 1.268.963 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Người Kháng chưa có chữ viết riêng.

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Người Kháng chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người Kháng sống tập trung ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu.

Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân sống lâu đời ở miền núi Tây Bắc nước ta.

Đặc điểm kinh tế: Phần lớn người Kháng trồng lúa, ngô trên rẫy với công cụ sản xuất thô sơ (dao, nu, gậy chọc lỗ). Một số nhỏ cày, bừa, trồng lúa nước. Ngoài ra còn săn bắt, hái lượm. Đồng bào chăn thả trâu, lợn, gà. Nghề thủ công được phát triển là đan lát (hòm, bem, mâm, gùi...).

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Kháng thường ăn cơm nếp, ngô, sắn đồ. Đặc biệt, có tục Tu mui, đổ nước cay vào mũi là nét văn hóa độc đáo của họ.

Ở: Người Kháng sống thành từng bản nhỏ có nơi ở xen kẽ với người Thái. Nhà sàn lợp gianh, có mái khum mui rùa, có cửa ra vào ở hai đầu hồi.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán, thuyền độc mộc là phương tiện vận chuyển chính.

Hôn nhân: Tục ở rể 3 năm mới cưới chính thức vẫn tồn tại trong cộng đồng người Kháng.

Tang ma: Có tục chia của cho người chết, con cháu phải cắt một nhúm tóc ở đầu để tưởng nhớ người đã mất.

Tín ngưỡng: Người Kháng thờ cúng tổ tiên. Người Kháng hàng năm có nhiều nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Trang phục: Nữ mặc áo ngắn có hàng cúc bạc, váy đen, đội khăn piêu. Nam mặc quần áo chàm, đôi khi cũng đội khăn.

Đời sống văn hóa: Người Kháng có nhiều truyện kể dân gian, có múa xòe, chơi sáo trong ngày lễ, cả những khi cúng bố mẹ.

 

24 DÂN TỘC KHMER

 Tên tự gọi: Người Khmer.

Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.

Số dân: 1.260.640 người (Tổng cục Thống kê năm 2009), là dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam.

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á. Họ có chữ viết riêng để ghi chép các truyện dân gian.

Nguồn gốc lịch sử: Trước thế kỉ XVII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Địa bàn cư trú: Sống tập trung tại đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Đặc điểm kinh tế: Nông nghiệp dùng cày và thâm canh lúa nước Bộ nông cụ khá hoàn thiện và hiệu quả, thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ, đặc biệt nhất là việc cày bằng hai trâu. Đồng bào thành thạo nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Chăn nuôi nuôi trâu bò, lợn, gà, vịt khá phổ biến.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Khmer thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Mắm là loại thức ăn được ưa chuộng với nhiều loại. Gia vị ưa thích là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

: Nhà truyền thống của Người Khmer là nhà sàn. Gia đình nhỏ một vợ một chồng, tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, hoặc ghe, thuyền (xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc ráng" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy).

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái.

Tang ma: Tục hỏa thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Tín ngưỡng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng dân gian như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok). Ngoài ra, vẫn tồn tại những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo trong đời sống.

Trang phục: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. người có tuổi mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Đám cưới, chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh). Cô dâu mặc Xăm pốt (váy) màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. Áo dài không xẻ tà, thân áo rộng và dài dưới gối, chui đầu.

Đời sống văn hóa: Người Khmer có kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Đặc biệt, sân khấu truyền thống (Dù kê, Dì kê) hết sức độc đáo. Âm nhạc ảnh hưởng của Ấn Ðộ và Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Chùa và sinh hoạt Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và xã hội.

 

25. DÂN TỘC KHƠ MÚ

Tên tự gọi: Khơ-mú

Tên gọi khác: Xà, Tày Hạy, Thềnh, Mứn Xen...

Dân số: 1.260.640 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Khơ-mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Người Khơ-mú không có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người Khơ-mú sinh sống chủ yếu ở miền núi tỉnh: Sơn La, Lai Châu, một ít ở Yên Bái, Thanh Hóa.

Nguồn gốc lịch sử: Người Khơ-mú đến lập nghiệp ở nước ta khoảng 200 năm nay.

Đặc điểm kinh tế: Người Khơ-mú canh tác nương rẫy với công cụ sản xuất là dao, nu, gậy chọc lỗ. Săn bắn, hái lượm chiếm vai trò quan trọng trong đời sống. Nghề phụ gia đình được phát triển nhất là đan lát. Một số nơi còn duy trì nghề dệt vải thủ công.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Khơ-mú ăn nếp đồ, sắn đồ trộn nếp và món ăn nường, sấy khô, uống rượu cất.

Ở: Người Khơ-mú sống quây quần thành lừng bản, trên sườn núi, ở nhà sàn nhỏ, lợp tranh hay lá song mây. Hình dáng nhà ở nhiều nơi giống như nhà của đồng bào Thái, ở đầu hồi có khau cút.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán là phổ biến nhất.

Hôn nhân: Người Khơ-mú còn duy trì tục ở rể. Vợ chồng bình đẳng, chung thủy.

Tang ma: Người Khơ-mú có nhiều nghi thức trong tang ma, cúng lễ và để tang.

Tín ngưỡng: Người Khơ-mú thờ cúng tổ liên, dòng họ. Nhà ở thì nhỏ nhưng vẫn thờ cúng ở gian phụ. Nhiều loại đồ thờ (sừng trâu, lá rừng) treo trên tường. Người Khơ-mú còn cúng các vị thần...

Trang phục: Y phục truyền thống của phụ nưlà áo đen, dài, đằng trước thường gắn hàng khuy bạc hay nhôm hình chữ nhật hoặc đáp vải màu. Nay phần lớn họ mặc giống ngườiThái.

Đời sống văn hóa: Người Khơ-mú có nhiều truyện kể về sự tích xuất hiện loài người. truyện kể lịch sử. Tơm là làn điệu dân ca được nhiều người ưa chuộng nhất. Các nhạc cụ tự tạo cũng khá phong phú: kèn môi, ống gõ, đàn, trống. sáo. Người Khơ-mú có nhiều điệu múa, có cả múa xòe. Cuộc sống tinh thần khá phong phú.

26 DÂN TỘC KINH

Tên tự gọi: Kinh

Tên gọi khác: Việt.

Số dân: 73.594.427 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt- Mường (ngữ hệ Nam Á). Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng, sử dụng chữ Hán, sáng tạo ra chữ Nôm.

Nguồn gốc lịch sử: Tổ tiên người Việt từ xa xưa đã định cư ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Địa bàn cư trú: Người Kinh cư trú khắp cả nước, nhưng tập trung đông tại các vùng đồng bằng và thành thị.

Đặc điểm kinh tế: Nông nghiệp lúa nước hình thành và phát triển rất sớm, sử dụng sức kéo trâu bò. Chăn nuôi lợn, gia súc, gia cầm, thả cá... cũng rất phát triển. Người Việt sáng tạo ra nhiều nghề thủ công nổi tiếng (đan lát, mộc, chạm khắc, thêu, dệt, gốm..)

Phong tục tập quán

Ăn: Ăn cơm tẻ thường ngày, dùng đồ nếp trong ngày lễ. Người Kinh có tập quán ăn trầu cau, hút thuốc lào, thuốc lá, uống nước chè, nước vối.

Ở: Ở nhà trệt, giữa nhà đặt bàn thờ gia tiên. Các vùng có kiểu nhà khác nhau. Ở miền Bắc, nhà ba gian hai trái; miền Trung là nhà rường và nhà mái lá.

Phương tiện vận chuyển: Đa dạng, phong phú trên đường bộ (gánh, vác, thồ bằng các phương tiện.. ); đường thủy (thuyền, bè).

Hôn nhân, gia đình: Theo gia đình mẫu hệ. Mỗi họ có nhà thờ họ, có người trưởng họ quán xuyến việc chung. Hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều nghi thức, nhà trai hỏi vợ và cưới vợ cho con.

Lễ tết: Có nhiều lễ tết trong 1 năm (Tết Nguyên Đán, các hội mùa xuân, Rằm tháng giêng, tết Thanh minh, lễ Hạ điền, lễ Thượng điền, tết Ðoan Ngọ, rằm tháng bẩy, tết Trung thu). Mỗi tết đều có ý nghĩa riêng và lễ thức tiến hành cũng khác nhau. Ngoài ra còn có các lễ hội của làng, của nghề...

Tang ma: Việc tổ chức tang ma qua các bước cơ bản sau: liệm, nhập quan, đưa đám, hạ huyệt, cúng cơm, cúng tuần "tứ cửu", cúng "bách mật", để tang, giỗ đầu, cải táng... Mỗi độ Thanh Minh, mỗi kỳ giỗ tết, các gia đình đi đắp lại mộ và tổ chức cúng lễ. Cải táng là một phong tục rất thiêng liêng của người Kinh.

Tín ngưỡng: Tờ tồ tiên là chính, ngoài ra còn thờ thổ công, thần Tài, Phật Bà Quan Âm. Một số vùng theo đạo Phật, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành. Tín ngưỡng dân gian có thờ Mẫu, tứ bất tử…

Trang phục: Theo truyền thống, nam thường mặc quần chân què, áo cánh nâu (Bắc Bộ), màu đen (Nam Bộ), đi chân đất; ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn xếp, đi guốc mộc. Nữ đội nón, mặc váy đen, yếm, áo cánh nâu, chít khăn mỏ quạ đen (Bắc Bộ). Phụ nữ ngày lễ hội hè mặc áo dài. Mùa đông, cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép bông.

Đời sống văn hóa: Vốn văn học cổ đồ sồ, gồm văn học miệng (truyện cổ, ca dao, tục ngữ), văn học viết bằng chữ (những áng thơ, văn, bộ sách, bài hịch). Nghệ thuật phát triển sớm và đạt trình độ cao về nhiều mặt (ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng). Hội làng hàng năm là một dịp sinh hoạt văn nghệ rôm rả, hấp dẫn nhất ở nông dân.

27. DÂN TỘC LA CHÍ

Tên tự gọi: La Chí

Tên gọi khác: Thổ Đen, Mán, Xá.

Dân số: 10.765 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người La Chí thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Người La Chí chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người La Chí sống tập trung ở hai tỉnh Hà Giang và Lào Cai.

Nguồn gốc lịch sử: Người La Chí sống lâu đời ở miền núi phía Bắc nước ta.

Đặc điểm kinh tế: Trồng lúa nước trên ruộng bậc thang, khi thu hoạch đập thóc tại ruộng, cũng làm nương rẫy và trồng màu. Công cụ sản xuất có cày bừa, cuốc, gậy chọc lỗ tra hạt. Săn bắn hái lượm có vai trò đáng kể. Nghề thủ công gồm có dệt vải bông, đan lát. Một số nơi có nghề rèn.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người La Chí thích ăn cơm nếp, thịt khô, sấy, thịt chua. Món da trâu sấy khô rất được ưa chuộng.

Ở: Người La Chí sống thành làng phân tán, ở nhà sàn truyền thống. Nhà đất làm bếp.

Phương tiện vận chuyển: Địu bằng giang hoặc vải gùi có dây đeo qua trán, gánh là phương tiện vận chuyển, bên cạnh đó còn dùng ngựa thồ hàng.

Hôn nhân: Người La Chí có tục trong cưới xin nhà trai phải nộp khoản "tiền công nuôi con gái".

Tín ngưỡng: Dù ở nhà sàn hay nhà đất, mỗi gia đình đều giành nơi to đẹp nhất để lập bàn thờ tổ tiên. Cúng bái. lễ nghi đối với cả bản hàng năm là lễ liên quan đến gieo trồng, thu hoạch lúa trở thành tín ngưỡng của người La Chí.

Trang phục: Nam mặc áo dài năm thân, cài khuy nách phải, quần lá tọa và cũng quấn khăn trên đầu và đeo vòng tay. Nữ mặc quần đen, áo dài đen tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng dây vải, đội khăn đen dài 3 mét, đeo vòng tai, vòng tay.

Đời sống văn hóa: Người La Chí có đời sống tinh thần cũng phong phú. Những ngày tết, lễ trai gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây và thường sử dụng  lá cây làm đàn môi. Trống, chiêng được dùng phổ biến trong các nghi lễ cúng bái.

 

 28. DÂN TỘC LA HA

Tên tự gọi: La Ha

Tên gọ khác: Klá phlạo, Xá Bung, Pụa, Xá Cha.

Nhóm địa phương: La Ha Cạn, La Ha Nước

Dân số: 5.686 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai.

Địa bàn cư trú: Người La Ha sống chủ yếu ở hai huyện Mường La và Thuận Châu tỉnh Sơn La. Một số người sống ở Lào Cai

Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân có mặt rất sớm và lập nghiệp ở miền Tây Bắc từ khoảng thế kỉ XI - XII.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác nương rẫy và cũng trồng lúa nước, làm vườn. Hái lượm, săn bắt và đánh bắt cá giừ vai trò quan trọng trong đời sống. Đồng bào chăn nuôi trâu, bò làm sức kéo, ngoài ra còn nuôi dê, lợn, gà. Người La Ha trồng bông, kéo sợi đem trao đổi, mua đồ mặc của đồng bào Thái.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người La Ha quen ăn nếp đồ, nay đã ăn cơm tẻ, ngô, sắn. Các món ăn thường chế biến như người Thái. Ngày lễ thường uống rượu cần.

Ở: Người La Ha sống thành từng bản hoặc ở xen kẽ với người Khơ mú, người Thái, ở nhà sàn lợp gianh, dưới sàn vẫn còn nhốt trâu, bò.

Phương tiện vận chuyển: Gùi và gánh là phương tiện vận chuyển chủ yếu.

Hôn nhân: Trai gái La Ha được tự do tìm hiểu nhau, không bị cha mẹ ép buộc cưới gả. Trai gái tìm hiểu nhau thông qua lời hát, sáo, nhị. Sau lễ dạm hỏi, nếu nhà gái không trả lại trầu do bà mối của nhà trai đưa tới thì chàng trai tổ chức lễ xin ở rể. Có tục ở rể 4 - 8 năm mới làm lễ cưới chính thức.

Tang ma: Người La Ha thường liệm tử thi bằng vải hay chiếu nan rổi đem chôn. Trên mộ đặt nhà mồ đơn sơ.

Tín ngưỡng: Người La Ha đểu lập bàn thờ nhỏ trong nhà, thường sùng bái thờ cúng ông bố. Hàng năm, đến mùa xuân mọi gia đình làm lễ tạ ơn tổ tiên. Ở một vài bản xuất hiện lễ cúng "ma cái" làm người ta bị bệnh. Trong lễ nghi có múa hình nộm dương vật và kiếm.

Trang phục: Nam nữ mặc gần giống cách mặc của người Thái Đen (nữ mặc áo ngắn với hai hàng khuy bạc hình bướm, váy đen, đội khăn trên đầu)

Đời sống văn hóa: Người La Ha có nhiều truyện kể dân gian về các anh hùng. Họ ca hát, làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo. Hai điệu múa đặc trưng là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm.

 

29. DÂN TỘC LA HỦ

Tên tự gọi: La Hủ

Tên gọi khác: Khù Xung, Cò Xung, Xá Lá vàng, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú.

Nhóm địa phương: La Hủ Na (đen). La Hủ Sư (vàng) và La Hủ Phung (trắng).

Dân số: 9.651 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người La Hủ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng. Người La Hủ chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nguồn gốc lịch sử: Người La Hủ đã sinh sống ở trên đất Mường Tè khoảng 200 năm.

Đặc điểm kinh tế: Người La Hủ vẫn còn lấy canh tác nương rẫy làm nguồn sống chính. Gần đây, có trồng lúa nước, dùng trâu làm sức kéo. Đàn ông đan lát đồ tre, mây, rèn nông cụ. Săn bắt và hái lượm vẫn có vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Phong tục tập quán:

Ăn: Trước kia, người La Hủ ăn ngô và cơm nếp là chính. Hiện nay đã ăn cơm tẻ và tự cất rượu để uống trong ngày vui.

Ở: Người La Hủ cư trú thành những bản nhỏ. Nhiều bản chỉ có 2 - 3 nhà trên sườn núi trong các khu rừng. Đồng bào thường làm nhà trệt nhỏ, vách nứa. Một số nơi ở nhà đất nhỏ, gọn và đơn giản.

Phương tiện vận chuyển: Người La Hủ dùng gùi đeo qua trán làm phương tiện vận chuyển chính.

Hôn nhân: Trai, gái La Hủ được phép tự do tìm hiểu trước hôn nhân. Trong lễ cưới, số lễ vật mà nhà trai đưa sang nhà gái bắt buộc phải có thịt sóc khô. Có tục ở rể đối với những người không sắm đủ lễ vật cho nhà gái.

Tang ma: Khi có người chết, người ta bắn súng báo hiệu. Quan tài được làm từ thân gỗ cây bổ đôi khoét rỗng ghép lại. Con cái bắt buộc phải để tang 3 năm đối với cha mẹ nhưng không có các dấu hiệu để tang trên trang phục.

Tín ngưỡng: Mỗi gia đnh đều có bàn thờ cha mẹ đã mất ở ngay chỗ nằm của chủ gia đình - con trai. Lễ cúng vào dịp tết, không cúng trong ngày giỗ. Người La Hủ cũng còn cúng thần Đất, hồn Lúa, hồn Ngô.

Trang phục: Phụ nữ mặc quần, áo dài đến cổ chân, ngày lễ, mặc thêm ở ngoài áo ngắn, có thêu và ghép vải mầu và đính bạc, bông chỉ đỏ ở cổ áo, nẹp áo, ống tay áo đeo dây cườm trên đầu quàng ra sau gáy và cổ. .. Nam giới mặc quần chân què lá tọa, ống rộng.

Đời sống văn hóa: Người La Hủ có nhiều truyện kể dân gian, đặc biệt có khiếu hài hước thể hiện qua nhiều câu chuyện cười để tự giễu bản thân. Thanh niên thường dùng khèn và nhất là đàn môi khi tâm sự tìm hiểu bạn gái. Người La Hủ có hàng chục điệu múa khèn.

 

 30. DÂN TỘC LÀO

Tên tự gọi: Lào

Tên gọi khác: Phu Thay, Thay Nhuôn

Nhóm địa phương: Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ)

Dân số: 11.611 người (Tổng cục Thống kê năm 1999)

Ngôn ngữ và chữ viết: Người Lào nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Có chữ viết riêng theo mẫu chữ Sanscrít viết trên lá cọ.

Địa bàn cư trú: Người Lào sống chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Sơn La và một số ở tỉnh Lào Cai.

Nguồn gốc lịch sử: Người Lào di cư từ Lào sang lập nghiệp ở nước ta từ vài trăm năm nay.

Đặc điểm kinh tế: Người Lào chủ yếu trồng lúa nước, làm nương rẫy. Chăn nuôi trâu bò làm sức kéo, nuôi gia cầm, làm gốm, dệt thổ cẩm, làm nghề bạc. Hái lượm săn bắn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Lào thường ăn nếp đồ, nay có thêm cơm tẻ. Các món ăn được ưa chuộng như thịt, cá ướp muối hay nướng. Món ăn nổi tiếng là pa đec chấm xôi - một loại chẻo cá. Đồng bào có thói quen ăn bốc.

Ở: Nhà ở của đồng bào thường cao, uốn khum ở hai đầu hồi, lợp giang, nứa và quây quần thành bản.

Phương tiện vận chuyển: Người Lào dùng gùi để vận chuyển, ngoài ra còn dùng thuyền trên sông, ngựa thồ trên đường núi.

Hôn nhân: Trước hôn nhân, nam nữ được tự do lựa chọn. Sau lễ cưới, cô dâu ở hẳn bên nhà chồng.

Tang ma: Người chết được làm lễ và chôn cất chu đáo.

Tín ngưỡng: Chịu ảnh hưởng của đạo Phật, người Lào thờ cúng tổ tiên, thờ cúng bản, mường.

Trang phục: Nữ giới mặc váy có gấu thêu hoa văn, đội khăn thêu, mặc áo ngắn hở ngực và thường có hàng khuy bạc. Khi chưa chồng, con gái búi tóc lệch bên trái. Nam giới mặc quần áo ngắn.

Đời sống văn hóa: Người Lào có vốn văn học dân gian phong phú với nhiều huyền thoại, cổ tích, dân ca... Phụ nữ Lào không chỉ hát hay mà còn rất giỏi các điệu dân vũ. Họ thường múa Lăm vông, hát đối đáp, chơi khèn, sáo trong các dịp lễ.

 

31 DÂN TỘC LÔ LÔ

Tên tự gọi: Lô Lô

Tên gọi khác: Màn Dì, Mùn Di, La La, Qua La, Lu Lộc Màn.

Nhóm địa phương: Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen.

Dân số: 4.541 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. ngữ hệ Hán - Tạng, gần với ngôn ngữ Miến hơn. Người Lô Lô đã có dạng chữ viết riêng (chữ tượng hình) nhưng nay đã bị mai một.

Địa bàn cư trú: Người Lô Lô sống ở huyện Đồng Văn, Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang, huyện Bảo Tạc thuộc tỉnh Cao Bằng và huyện Mường Khương thuộc tỉnh Lào Cai.

Nguồn gốc lịch sử: Lớp cư dân Lô Lô đầu tiên có mặt tại Việt Nam khá sớm, nhưng hiện nay người ta vẫn chưa biết chắc chắn thời điểm cụ thể.

Đặc điểm kinh tế: Người Lô Lô trồng lúa nước trên ruộng bậc thang. ngoài ra cũng còn trồng ngô trên nương rẫy. Chăn nuôi gia đình được chú trọng và là một nguồn thu nhập đáng kể. Người Lô Lô biết buôn bán.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Lô Lô ăn cơm tẻ hay bột ngô đồ với canh rau và các mòn xào, cũng uống rượu trong ngày lễ.

Ở: Người Lô Lô quần tụ thành các bản lớn và vừa trên triền núi, ở nhà đất tnnh tường. Mỗi hộ gia đình đều có khuôn viên riêng. ngoài nhà ở còn có vườn và chuồng gia súc, xung quanh nhà thường có hàng cây bao quanh.

Phương tiện vận chuyển: Dùng gùi đeo qua vai làm phương tiện vận chuyển chủ yếu. ngoài ra còn có ngựa thồ.

Hôn nhân: Việc cưới hỏi còn mang nặng tính gả bán. Sau khi cưới, cô dâu ở bên gia đình chồng.

Tang ma: Có nhiều nghi thức độc đáo trong tang ma như tục hóa trang, nhảy múa, giả đánh lộn.

Tín ngưỡng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, trong mỗi gia đình, trong mỗi dòng họ. Việc điều hành thờ cúng do người con trai và ông trưởng họ.

Trang phục: Phụ nữ mặc quần áo rộng, trên y phục có trang trí bằng nhiều họa tiết, hoa văn chắp ghép từ vải màu. Nam giới cũng mặc quần chân què lá tọa yà trang trí hoa văn nhiều màu sắc.

Đời sống văn hóa: Người Lô Lô có nền văn nghệ dân gian khá độc đáo với nhiều truyện kể thần thoại, nhiều làn điệu dân ca trữ tình. Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta, hiện nay người Lô Lô còn dùng trống đồng trong đám tang, đánh nhịp trong múa hát. Nghệ thuật trang trí của người Lô Lô rất tinh lế, độc đáo chứa đượm nhân sinh quan, vũ trụ quan cổ điển thể hiện trên y phục, trên trống đồng.

 

32. DÂN TỘC LỰ

Tên dân tộc: Lự

Tên gọi khác: Lừ, Thay hoặc Thay Lừ, Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.

Nhóm địa phương: Lự Đen

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali.

Dân số: 4.964 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Nguồn gốc lịch sử: Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) từ thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng.

Địa bàn cư trú: Chủ yếu tập trung ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (tỉnh Lai Châu)

Đặc điểm kinh tế: Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phân chuồng để bón ruộng. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người Hmông. Nghề dệt phát triển. Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán.

Ở:  Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Có bếp ở giữa nhà.

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Hôn nhân: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên.

Tang ma: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô.Chôn không đắp thành mồ.

Tín ngưỡng: Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian "hóng" trong nhà. Họ hướng về đạo Phật nhưng người Lự thờ cúng nhiều thần.

Trang phục: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệt thành hai phần trang trí. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Ðầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Nhuộm răng đen. Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.
Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.

Đời sống văn hóa: Người Lự rất thích hát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng. Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co

 

33. DÂN TỘC MẠ

Tên tự gọi: Mạ

Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.

Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.

Dân số: 41.405 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Địa bàn cư trú: Đồng bào sống tập trung ở tỉnh Lâm Đồng.

Nguồn gốc lịch sử: Người Mạ là cư dân vốn sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.

Đặc điểm kinh tế: Hoạt động nương rẫy là chủ yếu. Cây trồng chính là lúa, ngoài ra còn xen canh bắp, bầu, bí, bông, thuốc lá.  Nghề đan lát, rèn, đặc biệt là nghề trồng bông, dệt vải với những hoa văn tinh tế khá nổi tiếng nhưng cũng đang mai một dần.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Mạ thường ăn cơm tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng . thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.

Ở: Người Mạ sống trong những ngôi nhà sàn dài. Cửa ra vào uốn thành vòm và có cầu thang lên xuống. Chừng 5 - 10 nhà hợp thành một làng (bon). Mỗi làng có một già làng (Quăng bon) người có uy tín đối với cộng đồng.

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi là phương tiện vận chuyển chủ yếu. Ở ven sông Đồng Nai, người Mạ dùng thuyển để đi lại, vận chuyển và đánh cá.

Hôn nhân: Đám cưới được tổ chức và cô dâu mang một gùi củi sang nhà chồng cùng với đoàn đưa dâu. Nếu chàng trai không đủ sinh lễ, sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình.

Tang ma: Có tục chia của cho người chết bỏ mả.

Tín ngưỡng: Người Mạ theo tín ngưỡng đa thần và tin có các thần: Yang (trời) là thần tối cao, thần sông, thần núi...

Trang phục: Phụ nữ quấn váy dài quá bắp chân, mặc áo chui đầu dài tới thắt lưng và bó sát thân. Đàn ông đóng khố, mặc áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước, búi tóc sau gáy. Ngày nay. người Mạ có xu hường mặc giống người Việt.

Đời sống văn hóa: Người Mạ có nhiều truyện dân gian và những bài dân ca trữ tình gọi là Tam bớt. Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng 6 chiếc, trống bịt da trâu, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô.

34. DÂN TỘC MẢNG

Tên tự gọi: Mảng.

Tên gọi khác: Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O, Xá lá vàng.

Nhóm địa phương: Mảng Gứng, Mảng Hệ.

Số dân: 3.700 người (Theo Tổng cục Thông kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam - Á). Nhiều người Mảng biết tiếng Thái.

Nguồn gốc, lịch sử: Ngưới Mảng là một trong nhưng cư dân sinh sống lâu đời ở Tây Bắc nước ta.

Địa bàn cư trú: Ngưới Mảng sống tập trung Ở một số huyện Mường Lay, Mường Tè, Sìn Hồ tỉnh Lai Châu.

Đặc điểm kinh tế: Phần lớn canh tác nương rẫy với lúa, ngô; một số ít làm ruộng bậc thang. Săn bắn, hái lượm giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế. Chăn nuôi gia cầm, lợn là chủ yếu bên cạnh đó có nghề đan lát thủ công.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Mảng chủ yếu ăn ngô. Cá, lá sắn non trộn muối là thức ăn phổ biến. Họ ưa hút thuốc lào, uống rượu trắng.

: Sống quãy quần thành từng bản nhỏ. Nhà sàn đơn sơ, lợp gianh, vách nứa.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có ách tì sau gáy và dây đeo qua trán là phương tiện vận chuyển chủ yếu. Đồng bào còn dùng ngựa thồ.

Hôn nhân: Trai gái được tự do trong tìm hiểu, kết hôn và tục ở rể. Lễ vật dẫn cười có cá sấy khô.

Tang ma: Xưa, người chết khi chôn được bó bằng vỏ cây hoặc nứa ghép.

Tín ngưỡng: Tín ngưỡng đa thần truyền thốn và thờ cúng tổ tiên trong nhà và tục cúng bản, cúng mường.

Trang phục: Nam mặc quần áo cánh xẻ ngực. Nữ mặc áo cánh xẻ ngực, váy dài và quấn tấm vải trắng có trang trí hoa văn ngang mình.

Đời sống văn hóa: Kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian độc đáo với các làn điệu dân ca "xoỏng", truyện dã sử, sử thi, hát đối đáp.

35. DÂN TỘC M’NÔNG

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông

Dân số: 92.451 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Mnông mới có chữ viết.

Nguồn gốc lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Địa bàn cư trú: Tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắc Nông, Bình Dương, Lâm Đồng và Bình Phước.

Đặc điểm kinh tế: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng.

Phong tục tập quán:

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Ở: Có nhóm ở nhà sàn cao, có nhóm ở nhà sàn thấp, sát đất, chỉ cách mặt đất khoảng 60 - 70cm. Cửa ra vào có kiến trúc vòm như tổ tò vò. 

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi. Một số nơi dùng voi để vận chuyển. Nơi có sông, hồ, đồng bào dùng thuyền độc mộc.

Hôn nhân: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Tang ma: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng.

Trang phục: Về mùa nóng, đàn ông thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt.

Đời sống văn hóa: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa.

36. DÂN TỘC MƯỜNG

Tên tự gọi: Mường

Nhóm địa phương: Ao Tá (âu tá). Mọi Bi.

Số dân: 1.268.963 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường.

Địa bàn cư trú: Người Mường sống tập trung tại tỉnh Hòa Bình,Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội.

Nguồn gốc lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt, cư trú lâu đời ở miền núi và trung du.

Đặc điểm kinh tế: Đồng bào chủ yếu trồng lúa nước, một số ít làm rẫy trồng ngô, sắn; Chăn nuôi trâu, bò, lợn. gà…Nghề đan lát, dệt vải bông và tơ tằm khá phát triển. Ngoài ra, hai thác lâm thổ sản đóng vai trò quan trọng.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Mường thích ăn xôi đồ, cơm tẻ, rau, cá...; uống rượu cần và hút thuốc lào.Rượu là đặc sản nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị.

: Sống tập trung thành bản ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối. Nhà sàn gỗ 4 mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt cối giã gạo, chứa công cụ sản xuất. Tổ chức gia đình nhỏ phụ hệ.

Phương tiện vận chuyển: Vận chuyển chủ yếu bằng gùi, gánh.

Hôn nhân: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu. Việc cưới qua các bước chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới, đón dâu.

Tang ma: Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo và đặt trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Lễ hội: Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khuông mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới...

Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên

Trang phục: Nam mặc quần áo cánh màu chàm. Nữ đội khăn, mặc yếm và áo cánh ngắn thân xẻ ngực, có nơi xẻ vai, mặc váy dài, kéo cao đến nách. Cạp váy  thường được dệt bằng tơ nhuộm màu tạo nên các hoa văn như rồng, phượng, hươu. chim...

Đời sống văn hóa: Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú (các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ). Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi và những vũ điệu dân gian độc đáo (múa quạt, múa bông. múa sạp. .). Cồng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù.

 

37. DÂN TỘC NGÁI

Tên tự gọi: Ngái

Tên gọi khác: Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đảm, Lê.

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Ngái thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Nhiều người biết đọc viết chữ Hán.

Dân số: 4.841 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Nguồn gốc lịch sử:  Người Ngái vào Việt Nam làm nhiều đợt ở những thời gian cách đây không lâu.

Địa bàn cư trú: Cư trú ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Đặc điểm kinh tế: Người Ngái sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng trồng lúa. Ở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính. Đồng bào có truyền thống đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói...

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Ngái thường ăn 3 bữa trong ngày, ăn cháo, rau xào, dùng nhiều gia vị tỏi, ớt, gừng. Trong ngày lễ tết làm nhiều loại bánh.

Ở: Người Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo. Nhà phổ biến là nhà ba gian hai chái.

Hôn nhân: Trong gia đình, người chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi cha mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới.

Tang ma: Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức đám ma chu đáo. Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang.

Tín ngưỡng: Người Ngái rất coi trọng thờ cúng tổ tiên. Gia đình nào cũng có bàn thờ ở trong nhà. Mỗi bản thường có chùa thờ Phật.

Trang phục: Trang phục Ngái giống người Hoa (Hán). Ngoài quần áo, đồng bào còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô.

Đời sống văn hóa: Người Ngái có sách chữ Hán ghi chép những bài cúng, bói, xem lịch. Có văn học dân gian với nhiều truyện cổ, thơ, câu đối, tục ngữ. Họ có lối hát giao duyên nam nữ, gọi là Sường cô, rất phong phú. Có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp. Nhiều trò chơi được ưa thích như múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn.

 

38. DÂN TỘC NÙNG

Tên Tự gọi: Nùng

Tên gọi khác: Nùng Giang, Nùng Phàn Sình, Nùng An…

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Số dân: 968.800 (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái.... Người Nùng dùng chữ Nôm Nùng, chữ Hán để ghi chép gia phả, bài cúng, bài hát…

Nguồn gốc lịch sử: Người Nùng đến lập nghiệp ở nước ta cách đây 200 – 300 năm.

Địa bàn cư trú: Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào Cai.

Đặc điểm kinh tế: Sống bằng nương rẫy với cây lương thực chính là ngô, lúa với việc kết hợp làm ruộng nước vùng khe dọcr và ruộngcạn ở sườn đồi. Người Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng... Các ngành nghề thủ công đã phát triển (nghề dệt mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm, đan lát, làm giấy dó, làm ngói âm dương).

Phong tục tập quán

Ăn: Người Nùng ăn cơm tẻ là chủ yếu, thích ăn các món xào mỡ lợn. "Khau nhục "là món ăn độc đáo. Trong những ngày lễ, tết, người Nùng thường làm nhiều loại bánh từ gạo và có tục uống rượu bằng thìa.

: Sống xen kẽ với người Tày, nhà ở của đồng bào ảnh hưởng kiểu kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Hôn nhân: Nam nữ được tự do yêu đương, nhưng hôn nhân do bố mẹ quyết định. Sau ngày cưới, trước khi có con, cô dâu ở nhà mẹ đẻ.

Tang ma: có nhiều nghi lễ để đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Lễ hội: Người Nùng ăn Tết giống người Tày và Vieeth. Lễ hội tiêu biểu là "Lùng Tùng" (xuống đồng).

Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên là chính. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan Âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh...

Trang phục: Phụ nữ mặc áo năm thân và cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải. Nam, nữ mặc quần nhuộm  chàm, cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân. Phụ nữđeo tạp dề trước bụng. Mỗi nhánh dân có loại trang phục

Đời sống văn hóa: Người Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc như Sli. Then là làn điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có hình thức biểu diễn độc đáo.

 

39. DÂN TỘC Ơ ĐU

Tên tự gọi: Ơ Ðu

Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).

Dân số: 376 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày. Chưa có chữ viết riêng.

Nguồn gốc lịch sử: Người Ơ Đu là cư dân sống lâu đời ở miền núi thuộc tỉnh Nghệ An (vùng thượng lưu sông Cả).

Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Đặc điểm kinh tế: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Ơ Ðu trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.

Ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc), thường lợp gianh, vách ván hoặc vách nứa đan. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.

Phương tiện vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển phổ biến nhất.

Hôn nhân: Người Ơ Đu sống trong gia đình nhỏ, trong hôn nhân có tục ở rể. Lễ vật cưới hỏi phải có thịt chuột sấy khô, cá ướp muối. Sau một thời gian chàng rể mới đưa vợ, con về nhà mình.

Tang ma: Xưa , người chết chỉ bó chiếu đem chôn .

Tín ngưỡng: Người Ơ Đu thờ tổ tiên, cúng bản, cúng mường.

Trang phục: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

Văn hóa: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử. 

 

40. DÂN TỘC PÀ THẺN

Tên tự gọi: Pà Thẻn

Tên gọi khác: Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ

Dân số: 3.700 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc ngữ hệ Hmông - Dao. Người Pà Thẻn còn lưu giữ một vài cuốn sách cổ bằng những kí hiệu - chữ tượng hình.

Nguồn gốc Lịch sử: Theo truyền thuyết, người Pà Thẻn ở vùng Than Lô (Trung Quốc) đến Việt Nam cách đây khoảng 200 năm với câu chuyện vượt biển cùng người Dao.

Địa bàn cư trú: Sống tập trung tại một số xã của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang.

Đặc điểm kinh tế: Người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nương rẫy. Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Nghề dệt của họ có từ lâu đời, sản phẩm dệt được nhiều dân tộc xung quanh ưa thích. Ðàn ông thường đan lát, làm mộc.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Pà Thẻn chủ yếu ăn cơm tẻ, ngày hai bữa chính, thích các món ăn luộc hay xào.

Ở: Người Pà Thẻn ở nhà sàn, nhà nền đất hay nửa sàn nửa nền đất. Hiện nay nhiều nơi đồng bào đã dựng nhà cột kê khang trang, vững chãi.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là cách vận chuyển chính của người Pà Thẻn.

Hôn nhân: Gia đình một vợ một chồng bền vững. Việc lấy nhau giữa những người cùng họ bị nghiêm cấm ngặt. Rất hiếm các trường hợp người chồng lấy vợ hai, vợ chồng ít khi ly dị. Việc ngoại tình bị xã hội lên án. Từ khi dạm hỏi cho đến lễ cưới phải qua nhiều nghi lễ. Có hai hình thức ở rể là ở rể tạm thời (tối đa 12 năm) và ở rể đời - sang ở hẳn bên nhà vợ, con mang họ mẹ.

Tang ma: Khi có người chết thì người nhà bắn ba phát súng báo hiệu, sau đó tiến hành khâm liệm. Lễ vật dùng cho đám ma do con đã có chồng đưa đến phúng viếng. Quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng. Trong quan tài có đổ gạo rang, phủ giấy bản rồi mới đóng chốt hạ huyệt.

Tín ngưỡng: Người Pà Thẻn thờ cúng tổ tiên và có tín ngưỡng đa thần.

Trang phục: Nam giới mặc áo cánh, quần lá tọa màu chàm, quấn khăn dài. Cái độc đáo của trang phục Pà thẻn là ở trang phục nữ, được biểu hiện ở lối tạo dáng áo dài, cách dùng màu và lối mặc, tạo nên một phong cách riêng. Phụ nữ Pà thẻn đội khăn màu chàm quấn thành nhiều vòng trên đầu. Áo có hai loại cơ bản là áo ngắn và áo dài. Áo ngắn xẻ ngực, cổ thấp, màu chàm, cổ làm liền với hai vạt trước.

Đời sống văn hóa: Ðời sống văn nghệ của người Pà Thẻn phong phú như ca hát, thổi sáo các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc...) và các trò chơi dân gian

 

41. DÂN TỘC PHÙ LÁ

Tên tự gọi: Phù Lá.

Tên gọi khác: Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Xá Phó, Cần Thin.

Nhóm địa phương: Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán.

Dân số: 10.944 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, sử dụng chữ Hán và xem tiếng Hán phương Nam như công cụ giao tiếp hàng ngày.

Nguồn gốc lịch sử: Nhóm Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ là cư dân có mặt tương đối sớm ở Tây Bắc nước ta. Các nhóm khác đến muộn hơn, khoảng 200-300 năm trở lại, quá trình hội nhập của nhóm Phù Lá Hán còn tiếp diễn cho tới những năm 40 của thế kỷ XX.

Địa bàn cư trú: Phần lớn người Phù Lá sống tại tỉnh Lào Cai và các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang.

Đặc điểm kinh tế: Người Phù Lá làm nương và ruộng bậc thang, các sản phẩm đan bằng mây, trúc với nhiều hoa văn, màu sắc như các đồ đựng quần áo. Họ quen sử dụng nỏ, tên tẩm thuốc độc, trồng bông, dệt vải, xe sợi bằng con trượt.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Phù Lá ăn cơm tẻ ngày hai bữa, sáng sớm và tối thích hợp với điều kiện canh tác trên nương. Ðồ nếp dùng trong lễ cúng, làm bánh. Cơm nếp, các món ăn cá, thịt ướp với gạo rang giã nhỏ cùng gia vị ớt, rau thơm, thịt nướng rất được họ ưa thích.

Ở: Cư dân nhóm Phù Lá Lão thường ở phân tán thành những chòm xóm với quy mô nhỏ. Các nhóm khác cư trú tập trung hơn. Tuỳ từng nơi ở nhà sàn hay nhà trệt. Kho thóc quây quần thành một khu thường làm cách xa nhà để phòng hoả hoạn.

Phương tiện vận chuyển: Nhóm Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ đeo gùi đỡ bằng trán. Nhóm Phù Lá Hán và Phù Lá Ðen cõng gùi trên lưng hoặc sử dụng ngựa thồ để chuyên chở.

Hôn nhân: Trai gái tự do tìm hiểu trước hôn nhân. Trong đám cưới có tục uống rượu, hát đối để được vào nhà đón và đưa cô dâu về nhà trai và nhà gái, tục vẩy nước bẩn và bôi nhọ nồi lên mặt đoàn nhà trai trước khi ra về, tục lại mặt sau 12 ngày cưới.

Tang ma: Thi hài người chết để ở giữa nhà, đầu quay về phía bàn thờ, phía trên căng một chiếc chài rộng, đỉnh chài móc dưới mái nhà. Nước rửa mặt cho người chết không được đổ đi mà để tự bốc hơi hết. Trong đám tang người Phù Lá rất quan tâm đến việc giữ gìn hồn vía của những người đi đưa tang để không bị ở lại dưới mộ hay nghĩa địa.

Tín ngưỡng: Người Phù Lá thờ cúng tổ tiên.

Trang phục: Nam giới mặc áo loại xẻ ngực. Áo được may từ 6 miếng vải, cổ thấp, không cài cúc nẹp ngực viền vải đỏ, ống tay hẹp, cổ tay thêu hoa văn như áo phụ nữ.

Phụ nữ Phù Lá ăn mặc khác nhau giữa các nhóm. Nữ giới nhóm Phù Lá Lão - Bố Khô Pạ mặc váy, áo ngắn, cổ vuông chui đầu, vừa thêu vừa trang trí bằng hạt cườm, thắt lưng đính vỏ ốc núi.

Đời sống văn hóa: Kho tàng văn học dân gian phong phú, nhiều truyện cổ tích rất gần với môtip của người Việt. Người Phù Lá sử dụng kèn, trống. Trai gái thích hát giao duyên. Nhóm Phù Lá Lão còn biết múa xòe trong âm hưởng của các làn điệu dân ca Thái.

 

42. DÂN TỘC PU PÉO

Tên tự gọi: Pu Péo

Tên gọi khác: Ka Beo, La Quả, Pen ti Lô Lô

Dân số: 687 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng Pu Péo thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai. Người Pu Péo nói giỏi tiếng Hmông.

Địa bàn cư trú: Người Pu Péo sống rải rác ở các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang.

Nguồn gốc lịch sử: Người Pu Péo sống lâu đối ở vùng cực bắc lãnh thổ Việt Nam.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác nương rẫy trồng ngô là chính. Một số nơi, làm ruộng bậc thang. Công cụ sản xuất có cày, bừa, cuốc, nạo cỏ. Chăn thả bò, dê, lợn, gà. Thủ công có nghề làm ngói máng, nghề mộc.

Phong tục tập quán:

Ăn: Bột ngô đồ, canh là hai món ăn chính của người Pu Péo.

Ở: Trước đây người Pu Péo ở nhà sàn, nay ở nhà đất trình tường, lợp ngói máng hay lợp cỏ gianh.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được sử dụng phổ biến làm phương tiện vận chuyển.

Hôn nhân: Cưới xin có nhiều bước. Hôm đón dâu, phù dâu phải cõng cô dâu ra khỏi cổng để theo đoàn nhà trai về. Trong bữa cơm cúng tổ tiên, thức ăn để trên nong, cả nhà cùng dâu rể phải ăn bốc.

Tang ma: Người Pu Péo có lễ làm ma và lễ làm chay. Trong những ngày có tang người ta cắm ta leo trước cửa để trừ tà ma làm hại. Lễ mãn tang vừa uống rượu vừa đánh trống.

Tín ngưỡng: Người Pu Péo lập bàn thờ ở trong nhà, cúng tổ tiên 3 đời. Trên bàn thờ có 3 hũ sành nhỏ, mỗi hũ tượng trưng cho mỗi đời.

Trang phục: Nữ giới mặc váy dài, áo ngắn, cài khuy bên nách phải, đôi khi phủ khăn vuông trên đầu. Mép tay áo mép váy được ghép, viền vải màu tạo hoa văn sặc sỡ. Nam giới mặc quần, áo ngắn.

Đời sống văn hóa: Người Pu Péo có truyện cổ dân gian, có trống đồng (trống cái, trống đực) sử dụng trong lễ nghi, cúng bái. Nghệ thuật trang trí rõ nét trên y phục: chắp ghép vải màu, tạo các hình, các họa tiết tượng trưng cho sự biến chuyển của vũ trụ...Hát đám cưới xin dâu giữa nhà trai và nhà gái suốt 3-4 giờ trở thành một sinh hoạt văn nghệ rất độc đáo.

 

43. DÂN TỔC RA GLAI

Tên tự gọi: Raglai

Tên gọi khác: Radlai, Ranglai, Roglai.

Dân số: 122.245 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Nhóm địa phương: Rai, Hoang, La Oang.

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Ra-glai thuộc ngữ hệ Nam Đảo.

Địa bàn cư trú: Đồng bào sinh sống tại huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận và một số nơi khác thuộc tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng.

Nguồn gốc lịch sử: Người Ra-glai cư trú lâu đời ở vùng Nam Trung Bộ.

Đặc điểm kinh tế: Đồng bào sống dựa vào rẫy, trỉa lúa, bắp, đậu. Hiện nay, ở một số nơi, đã có ruộng nước. Săn bắt và hái lượm vẫn giữ một vai trò quan trọng. Đồng bào chăn nuôi trâu, lợn, gà, vịt, làm nghề rèn và đan lát.

Phong tục tập quán:

Ăn: Bữa cơm sáng và chiều là hai bữa ăn chính, cơm trưa ăn trên rẫy. Người Ra-glai thường uống nước lã và uống rượu cần.

Ở: Người Ra-glai ở nhà sàn nhỏ. Từ nền đất đến nhà sàn không cao quá một mét. Làng thường ở trên đồi hay dọc theo suối

Phương tiện vận chuyển: Gùi thường có hoa văn là phương tiện vận chuyển của người Ra-glai.

Hôn nhân: Việc cưới xin phải trải qua nhiều thủ tục. Lễ cưới được tiến hành ở cả hai gia đình, có nghi thức trải chiếu cưới cho cô dâu, chú rể. Luật tục Ra-glai quy định đã thành vợ, thành chồng thì không được bỏ nhau.

Tang ma: Người chết được quấn trong vải, đặt trong quan tài hoặc quấn bằng vỏ cây rồi đem chôn.Có làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết.

Tín ngưỡng: Người Ra-glai vẫn suy tôn nhiều vị thần. Do đó, gia đình thường có nhiều nghi lễ.

Trang phục: Xưa, đàn ông ở trần, đóng khố không có hoa văn. Ngày lễ, phụ nữ mặc áo dài, phía trên áo được ghép bởi các miếng vải ô vuông màu đỏ, trắng.

Đời sống văn hóa: Văn học dân gian gồm có truyện kể, hát đối đáp nam nữ, tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cả cộng đồng. Nhạc cụ tiêu biểu nhất là bộ chiêng gồm 12 chiếc. Trong đám tang có điệu múa tiễn đưa người chết, theo nhịp của bộ chiêng 7 chiếc. Ngoài ra còn có các nhạc cụ khác như: kèn bầu, kèn môi, đàn ống tre, đàn đá...

 

44. DÂN TỘC RƠ MĂM

Tên tự gọi: Rơ Măm

Tên gọi khác: Rơ-măm Ale

Dân số: 436 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người Rơ-măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Địa bàn cư trú: Người Rơ-măm hiện cư trú tại huyện Sa Thày, tỉnh Kon Tum.

Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân sống lâu đời ở vùng đất này.

Đặc điểm kinh tế: Người Rơ-măm sống dựa vào làm rẫy, trồng lúa nếp là chính bằng cách phát, đốt rừng, chọc lỗ, trỉa hạt. Săn bắn và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng. Đồng bào chăn nuôi gia súc, đan lát và dệt vải.

Phong tục tập quán:

Ăn: Đồng bào vẫn còn thói quen ăn bốc, thích ăn cơm lam với canh rau và muối ớt. Trong lễ hội thường uống rượu cần.

Ở: Xưa kia, người Rơ-măm ở trong những ngôi nhà sàn dài, xếp quanh ngôi nhà chung. Mỗi nhà có nhiều bếp. Hiện nay, mỗi gia đình ở trong một ngôi nhà lợp ngói do nhà nước xây dựng.

Phương tiện vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển của đồng bào Rơ-măm.

Hôn nhân: Lễ cưới của người Rơ-măm khá đơn giản. Có bữa cơm chung đầu tiên của cô dâu chú rể.

Tang ma: Người Rơ-măm thường dùng trống để báo tin có người chết. Việc chôn cất sẽ được tiến hành vài ngày sau khi mất. Mộ được sắp xếp sao cho mặt người chết không nhìn vào làng. Trong lễ bỏ mả, có hai người (một nam, một nữ) đeo mặt nạ, đánh chiêng, nhảy múa.

Tín ngưỡng: Người Rơ-măm vẫn còn duy trì những cúng lễ liên quan đến sản xuất nương rẫy để cầu mong sự phù trợ của các vị thần.

Trang phục: Đàn ông đóng khố dài, vạt trườc buông tới đầu gối, vạt sau dài tới ống chân. Đàn bà quấn váy. Mọi người thường ở trần, đôi khi nữ mặc áo cộc tay, khố và váy là tấm vải mộc.

Đời sống văn hóa: Người Rơ-măm có ca dao, tục ngữ, một số điệu dân ca và truyện cổ. Nhạc cụ của người Rơ-măm gồm chiêng, trống và đàn, sáo...

 

45. DÂN TỘC SÁN CHAY

Tên tự gọi: Sán Chay

Tên gọi khác: Hờn Bán, Chùng, Trại...

Nhóm địa phương: Cao Lan và Sán Chỉ.

Dân số: 147.315 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai) còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng). Nhiều người Sán Chay biết chữ Hán.

Nguồn gốc lịch sử: Người Sán Chay từ Trung Quốc di cư sang cách đây khoảng 400 năm.

Địa bàn cư trú: Người Sán Chay chủ yếu tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Đặc điểm kinh tế: Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương rẫy vẫn có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế và phương thức canh tác theo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tại đến ngày nay.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Sán Chay ăn cơm tẻ là chính. Rượu cũng được dùng nhiều, nhất là trong ngày tết, ngày lễ. Ðàn ông thường hút thuốc lào. Phụ nữ ăn trầu.

Ở: Nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.

Hôn nhân: Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà. Tuy nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng.

Tang ma: Ðám ma do thầy tào chủ trì gồm nhiều nghi lễ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ðạo giáo và Phật giáo. Ðặc biệt ngôi nhà táng được làm rất công phu và đẹp.

Tín ngưỡng: Người Sán Chay thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa, Táo Quân.

Trang phục: Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống người Kinh hoặc người Tày. Thường ngày phụ nữ Sán Chay mặc váy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở hò áo và chỉ dùng một thắt lưng chàm nhưng trong ngày tết, ngày lễ họ dùng 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hay nhiễu với nhiều màu khác nhau.

Đời sống văn hóa: Dân tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ. Đặc biệt sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn... Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn...

 

46 DÂN TỘC SÁN DÌU

Tên tự gọi: Sán Dìu

Tên gọi khác: Trại, Trại Ðất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ...

Dân số: 146.821 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng). Người Sán Dìu chưa có chữ viết, nhưng nhiều người biết chữ Hán.

Nguồn gốc lịch sử: Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.

Địa bàn cư trú: Sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Tuyên Quang.

Đặc điểm kinh tế: Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn...

Phong tục tập quán:

Ăn: Họ ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.

Ở: Họ ở nhà đất lợp rạ hay tranh. Các nhà thường quần tụ thành bản nhỏ, kín đáo và cũng có lũy tre xanh bao bọc.

Phương tiện vận chuyển: Phương tiện vận chuyển của đồng bào là gánh, đặc biệt có chiếc xe quệt bằng gỗ, tre trâu kéo, rất thích hợp với nơi có độ dốc thoai thoải.

Hôn nhân: Người Sán Dìu có tục xem lá số, xem tuổi cho cuộc tìm hiểu cưới xin của đôi trai gái. Trong đám cưới, lễ cưới diễn ra ở nhà gái là quan trọng nhất.

Tang ma: Khi lấp huyệt xong, con cái đi vòng quanh mộ. nhúm một nắm đất đặt lên mộ. Có tục cải táng.

Tín ngưỡng: Người Sán Dìu thờ tổ tiên, có miếu thờ thổ thần...

Trang phục: Phụ nữ mặc áo dài, quần chàm đen, đội khăn đen, thắt dây lưng màu trắng, đeo tạp dề trước bụng quấn xà cạp trắng . đeo vòng ở cổ, ở tay và đeo xà tích bạc bên hông. Nam giới mặc quần áo màu chàm.

Đời sống văn hóa: Người Sán Dìu cũng có hát giao duyên nam nữ mà họ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm. Truyện kể - chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, kéo co...

 

47. DÂN TỘC SI LA

Tên tự gọi: Si La

Tên gọi khác: Cú Dé Xử, Khả Pẻ

Dân số: 840 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người Si La thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng. Người Si La chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người Si La sống tập trung ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nguồn gốc lịch sử: Người Si La có nguồn gốc xa xưa ở Tây Tạng (Trung Quốc), qua Lào đến lập nghiệp ở Việt Nam khoảng 150 năm nay.

Đặc điểm kinh tế: Trườc kia người Si La quen du cư, du canh, gần đây đã biết kết hợp vừa làm nương, vừa làm ruộng nước. Đồng bào trồng lúa, ngô, săn bắt, hái lượm và chăn nuôi.

Phong tục tập quán:

Ăn: Xưa kia người Si La quen dùng cơm nếp, gần đây ăn cơm tẻ nhiều hơn. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, hái lượm.

Ở: Người Si La sống quây quần thành bản nhỏ, kín đáo, ở nhà đất hay nhà vách nứa, thường không có vườn. Bếp đặt ở giữa nhà.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu dùng gùi đeo qua trán khi đi nương rẫy, dùng mảng để đi lại trên sông.

Hôn nhân: Trai gái yêu nhau được quan hệ với nhau, người con trai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình và phong tục cưới hỏi của người Si La cũng rất đặc sắc họ làm lễ cưới hai lần. Lần đầu đón cô dâu về nhà chồng, lần thứ hai sau một năm. Nhà trai phải có khoản tiền cưới trao cho nhà gái mới được đón dâu về nhà mình.

Tang ma: Quan tài làm bằng một khúc gỗ bổ đôi khoét rỗng. Mộ táng bao giờ cũng đặt phía dưới bản. Không có tục cải táng hay tảo mộ.

Tín ngưỡng: Người Si La thờ cúng theo các dòng họ. Mỗi gia đình lập bàn thờ cúng tổ tiên.

Trang phục: Phụ nữ mặc váy chàm, áo ngắn cài cúc bên nách phải, trên áo phía trước đưục thêu đính nhiều xu bạc, vấn khăn có tết sợi chỉ màu sắc. Cách vấn khăn thường biểu thị tình trạng hôn nhân. Nam giới mặc quần chân què lá tọa và áo khuy vải có hai túi lớn ở hai vạt trước và cũng quấn khăn trên đầu.

Đời sống văn hóa: Người Si La hát giao duyên giữa nam nữ thanh niên, hát sử ca. Ngày tết năm mới vào đầu tháng 12 âm lịch. Ngoài ra họ còn ăn tết cơm mới. Các em nhỏ Si La thường chơi các đồ chơi tự chế từ tre gỗ hay đất sét. Đồng thời, chúng cũng có các trò chơi tập thể rất vui nhộn.

 

48. DÂN TỘC TÀ ÔI

Tên tự gọi: Tà Ôi

Tên gọi khác: Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua , Pa Hy

Nhóm địa phương: Tâ-ôi, Pa , Pa Hy

Dân số: 43.886 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng nói của người Tà-ôi thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Địa bàn cư trú: Đồng bào sống tập trung ở huyện Hương Hóa, tỉnh Quảng Trị, huyện A Lưới, Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nguồn gốc lịch sử: Người Tà-ôi sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn.

Đặc điểm kinh tế: Canh tác lúa. ngô trên nương rẫy, nay đã làm ruộng nước ở nhiều nơi. Nông cụ là cuốc và dao phát. Săn bắt, đánh cá, hái lượm còn phổ biến. Nghề đan lát mây tre đáp ứng nhu cầu gia đình. Người Tà-ôi chăn thả nhiều trâu, dê, bò...

Phong tục tập quán

Ăn: Người Tà-ôi ăn cơm, còn ăn ngô, khoai, sắn, củ mài. Thức ăn thường là các loại rau, măng nấu với ốc hay cá. Thức uống là nước lã, rượu. Đồng bào hút thuốc lá bằng tẩu tre hoặc đất nung.

Trang phục: Nữ mặc váy ống loại ngắn hoặc váy dài lên đến tận ngực, mặc áo ngắn.
Đàn ông quấn khố ở trần. Hiện nay người Tà-ôi mặc giống người Việt.

Ở: Người Tà-ôi ở nhà sàn dài, có phên ngăn buồng cho từng cặp vợ chồng và các con. Mái nhà uốn tròn ở hai đầu hồi, trên đỉnh có khau cút.

Phương tiện vận chuyển: Người Tà-ôi thường đeo gùi sau lưng. Đàn ông có riêng loại gùi 3 ngăn dùng đi săn.

Hôn nhân: Người Tà-ôi có tục khi trai, gái lớn lên cà 6 chiếc răng cửa hàm trên thì được tìm hiểu và kết hôn. Nay việc cưới do nhà trai chủ động, sau hôn lễ cô dâu về ở nhà chồng.

Tang ma: Người chết được đặt trong quan tài độc mộc. Có tục chia của cho người chết. Việc mai táng sau khi chết là tạm thời. Vài năm sau khi chôn, tổ chức lễ cải táng và làm nhà mồ.

Tín ngưỡng: Người Tà-ôi thờ nhiều thần. Mỗi dòng họ có bàn thờ ở nhà trưởng họ.

Đời sống văn hóa: Người Tà-ôi có vốn tục ngữ, ca dao, câu đối, truyện cổ dân gian phong phú. Dân ca có điệu Calơi đối đáp khi uống rượu, hội hè, điệu Ba boih hát một mình khi lao động hoặc đi đường, điệu Roih gửi gắm, dặn dò đối với các bậc con cháu nhân các dịp vui vẻ, điệu Cha chap dành cho tình cảm trai gái của thanh niên... Nhạc cụ có cồng, chiêng, tù và, khèn, sáo, nhị, đàn ta lư...

 

49. DÂN TỘC TÀY

Tên tự gọi: Tày

Tên gọi khác: Thổ

Nhóm địa phương: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.

Số dân: 1.626.392 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết : Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Đồng bào có chữ nôm Tày.

Địa bàn cư trú : Người Tày chủ yếu sinh sống ở miền Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Quảng Ninh, Bắc Giang... )

Nguồn gốc lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Đặc điểm kinh tế: Người Tày có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với kỹ thuật thâm canh các biện pháp thuỷ lợi. Ngoài ra, đồng bào còn trồng trọt trên đất bãi với lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm. Các nghề thủ công gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Tày thích ăn nếp. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh làm từ bột nế.. Ðặc biệt người Tày có bánh bột nhân bằng trứng kiến và cốm nếp.

: Người Tày cư trú tập trung ở những thung lũng ven suối hoặc triền núi thấp. Cư trú theo đơn vị làng, bản. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ được xây dựng theo kiểu pháo đài đề phòng hoả hoạn. Nhà sàn là nhà truyền thống có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ; thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Hôn nhân: Nam nữ tự do yêu đương nhưng hôn nhân phụ thuộc bố mẹ hai bên và "số mệnh" theo quan niệm. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Tang ma: Nhiều nghi lễ nhằm được tổ chức nhằm báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên.

Lễ hội: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau (Tết Nguyên đán, tết rằm tháng 7, Tết gọi hồn trâu bò, cơm mới..)

Tín ngưỡng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra người Tày còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Trang phục: Nam, nữ thường mặc quần áo chàm đen không thêu hoa văn. Nữ mặc áo dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách và cài 5 khuy bên phải. Một số nơi. nữ quấn khăn hình chóp trên đỉnh đầu hay hình mái nhà..

Đời sống văn hóa: Người Tày có kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hò vè.. Đàn tính là nhạc cụ được sử dụng phổ biến ở người Tày. Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng.... Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối gỗ khá độc đáo.

 

50. DÂN TỘC THÁI

Tên tự gọi: Thái

Tên gọi khác: Tày Thanh, Man Thanh, Tay Dọ, Thổ, Hàng Tổng, Man Thanh, Tày Đăm, Tày Khao, Nhại, Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc..

Nhóm địa phương: Có hai nhóm chính: Thái Ðen (Tay Ðăm), Thái Trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Số dân:  1.550.423 người (Tổng cục Thống kê năm 2009), là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam.

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Người Thái sớm có chữ viết theo mẫu chữ Sanscrit nên nhiều vốn cổ (văn học, luật lệ, dân ca).

Nguồn gốc lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, người Thái có mặt ở Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm.

Địa bàn cư trú: Người Thái có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An.

Đặc điểm kinh tế: Người Thái đã trồng lúa nước với hệ thống thuỷ lợi nông nghiệp vùng thung lũng độc đáo. Đồng bào trồng bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải. Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp. Đồng bào chăn nuôi nhiều gia súc, gia cầm, ngoài ra còn đánh bắt cá, đan lát, làm gốm bằng tay…

Phong tục tập quán:

Ăn: Đề nếp là lương thực truyền thống. Trên mâm ăn không thể thiếu món chéo. Họ có những món độc đáo như nặm pịa, món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, làm mắm từ thịt cá tươi. Đặc biệt là các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy... Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi... hay uống rượu cần, hút thuốc lào.

: Bản người Thái thường gồm 50 nóc nhà sàn. Nhà sàn người Thái đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút. Nhà người Thái trắng gần với nhà người Tày-Nùng. Ở Thanh Hóa, Nghệ An, nhà người Thái có 4 mái… Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm.

Phương tiện vận chuyển: Người Thái vận chuyển bằng gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Hôn nhân: Nam nữ tự do tìm hiểu, lựa chọn. Trước, người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua 2 bước cơ bản là cưới lên (đong khửn) và cưới xuống (đong lông).

Tang ma: Người Thái quan niệm chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia. Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời". 

Lễ hội: Người Thái có nhiều lễ hội như: Lễ cầu mùa, cầu mưa, hoa Ban, Hạn Khuống, Kin Pa Then, xang khan, xên bane, xên mường, xíp xí, xòe chiêng..

Tín ngưỡng: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Trang phục: Phụ nữ Thái đội khăn piêu, mặc váy đen, áo ngắn, đính cúc bạc hình hình bướm, nhện, ve sầu... áo bó sát, thắt eo bằng vải lụa xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng. Nam mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách,

 

51. DÂN TỘC THỔ

Tên tự gọi: Thổ

Tên gọi khác: Người Nhà Làng, Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng.

Nhóm địa phương: Kẹo, Mọn, Cuối, Đan Lai - Ly Hà, Tày Poọng

Dân số: 74.458 người (Tổng cục hống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, ngữ hệ Nam Á.

Địa bàn cư trú: Người Thổ cư trú ở các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kì thuộc tỉnh Nghệ An, một ít sống ở Thanh Hóa.

Nguồn gốc lịch sử: Nguồn gốc từ nhóm Việt - Mường di cư lên miền núi trở thành cộng đồng người Thổ.

Đặc điểm kinh tế: Chủ yếu làm nương rẫy, một số ít làm ruộng nước dùng cày, bừa; trồng lúa, ngô và hoa màu. Người Thổ còn trồng nhiều cây gai, chăn nuôi nhiều trâu, lợn, gà... Bên cạnh đó còn săn bắt thú, cá, có nghề đan lát gai và mây tre.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Thổ ăn cơm tẻ, cơm nếp.

Ở: Người Thổ phần lớn ở nhà sàn che xung quanh bằng liếp, nứa hoặc gỗ. Một số nơi nhà làm không mộng mà chỉ dựa vào ngoàm và buộc. Người Thổ sống thành từng bản nhỏ và cũng thường xen kẽ với những nhà của người Việt, người Thái.

Phương tiện vận chuyển: Gánh, xe trâu kéo (khung và bánh xe làm bằng gỗ)

Hôn nhân: Người Thổ có tục "ngủ mái". Nam nữ thanh niên được nằm tâm tình với nhau nhất là vào dịp tết, lễ hội nhưng hết sức nghiêm ngặt. Từ những đêm "ngủ mái" họ chọn được bạn trăm năm.

Tang ma: Người chết được đặt trong quan tài độc mộc. Khi khiêng người chết đi chôn phải để chân hướng về phía trước. Ở mộ thường để chân xuôi theo dòng nước chảy.

Tín ngưỡng: Người Thổ thờ cúng nhiều thần. Gia đình nào cũng có bàn thờ cúng tổ tiên. Nhiều làng có đền thờ các vị Thần.

Trang phục: Nữ mặc áo cánh trắng, thắt lưng vải dài, nay quấn váy mua của người Thái, đội khăn vuông trắng (khăn tang là khăn trắng dài). Nam mặc quần áo ngắn.

Đời sống văn hóa: Đồng bào Thổ có vốn văn nghệ dân gian như ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ phong phú. Ho vẫn còn giữ và phổ biến nhiều làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo mang đậm dấu ấn đặc trưng như Đu đu điềng điềng, Ên ên- ạc ạc, hát Thuôm, hát ghẹo, hát cuối, hát dặm, múa sạp, múa nón...

 

52. DÂN TỘC XINH MUN

Tên tự gọi: Xinh-mun

Tên gọi khác: Puộc, Xá, Pnạ

Nhóm địa phương: Xinh, Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.

Dân số: 23.278 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Xinh-mun giỏi tiếng Thái. Trước đây, một số người biết sử dụng chữ Thái, nay dùng chữ phổ thông.

Nguồn gốc lịch sử: Người Xinh-mun đã từng sinh sống lâu đời ở miền Tây Bắc Việt Nam.

Địa bàn cư trú: Cư trú chủ yếu ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu

Đặc điểm kinh tế: Người Xinh-mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, họ thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. 

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Xinhun ăn cơm nếp, cơm tẻ, thích gia vị cay, uống rượu cần, có tập quán ăn trầu

Ở: Người Xinh Mun ở nhà sàn. Có hình mai rùa ở đầu hồi và trang trí khau cút đơn hình sừng trâu và có hai cầu thang lên xuống ở đầu hồi.

Hôn nhân: Nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Phổ biến tục ở rể. Trước đây con trai phải ở rể khoảng 8-12 năm hoặc ở rể suốt đời nếu bên vợ không có con trai.

Tang ma: Không dùng quan tài gỗ mà chỉ bó cót. Chọn đất đào huyệt bằng cách ném trứng trên khu vực định sẵn, trứng vỡ ở đâu thì huyệt được đặt ở đó. Người Xinh Mun không có tục cải táng và tảo mộ.

Tín ngưỡng: Người Xinh-mun lập bàn thờ trong nhà và cúng tổ tiên 2 đời. Thờ cúng bản mường hàng năm được coi trọng và là dịp sinh hoạt cộng đồng vui nhất. Người Xinh-mun có nhiều nghi lễ nông nghiệp, lớn nhất là lễ cúng Hồn lúa hay Mẹ lúa.

Trang phục: Y phục của họ không có nét riêng mà giống người Thái (nữ mặc váy dài, áo ngắn có khuy bạc, đội khăn piêu...)

Văn hóa: Người Xinh-mun thích hát và múa vào các dịp tết lễ, ngay trên nhà. Trai gái, nam nữ hát đối với nhau rất tự nhiên.

 

53. DÂN TỘC XƠ ĐĂNG

Tên tự gọi: Xơ Đăng

Tên gọi khác: Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ - đăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba-na, Gié-Triêng.

Nguồn gốc lịch sử: Người Xơ-đăng là cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Địa bàn cư trú: Người Xơ-đăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh.

Đặc điểm kinh tế: Làm rẫy trồng lúa đóng vai trò chủ đạo. Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm. Ngoài lúa, còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ. Nghề dệt vải, nghề rèn, đan lát phát triển ở nhiều vùng.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Xơ-đăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; thích uống rượu cần, hút thuốc lá.

: Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng).

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Gùi ở các nhóm Xơ-đăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Hôn nhân: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Tang ma:  Ngùi chết được "chia của", bỏ trong tài độc mộc, chôn trong bãi mộ chung của làng, không có lễ bỏ mả.

Lễ hội: Các lễ tết gắn liền chu kỳ sản xuất nông nghiệp và đời người. Tiêu biểu là lễ cúng thần nước

Tín ngưỡng: Thờ đa thần (thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... ). Họ có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Trang phục: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ-đăng dùng y phục bằng vỏ cây.

Đời sống văn hóa: Người Xơ-đăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Họ có nhiều làn điệu dân ca, điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ-đăng phong phú, đặc sắc.

 

54. DÂN TỘC XTIÊNG

Tên tự gọi: Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Điêng hay Xa Chiêng

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Đêk, Bù Biêk

Dân số: 66.788 người (Tổng cục Thống kê năm 1999).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Gần đây, người Xtiêng mới có chữ viết dựa trên mẫu chữ Latinh

Nguồn gốc lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

Ðịa bàn cư trú: Người Xtiêng tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Ðồng Nai, Tây Ninh.

 Đặc điểm kinh tế: Nhóm Bù Đêk ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu và nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người Mnông, người Mạ. 

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp.

Ở: Nhóm Bù Lơ sống trong nhà đất dài với gia đình lớn theo chế độ phụ hệ; nhóm Bù Đêk lại sống trong nhà sàn dài với gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ.

Hôn nhân: Trong hôn nhân người Xtiêng lấy vợ, lấy chồng khác dòng họ. Thông thường con trai từ tuổi 19-20, con gái từ tuổi 15-17 bắt đầu tìm bạn đời. Sau lễ cưới cô dâu về nhà chồng.

Tang ma: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày.

Tín ngưỡng: Phần lớn người Xtiêng thờ đa thần.

Trang phục: Trang phục của người Xtiêng khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Mùa đông người ta choàng một tấm vải để chống rét. Người Xtiêng để tóc dài búi sau gáy, tai sâu lỗ, hoa tai bằng gỗ, ngà voi và xăm mặt, xăm mình với những hoa văn giản đơn. Mọi người nam, nữ, già, trẻ đều thích đeo các loại vòng. Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân.

Đời sống văn hoá: Người Xtiêng yêu thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 6 cái. Chiêng không được gõ ở ngoài nhà, trừ ngày lễ đâm trâu. Chiêng dùng trong hội lễ, cả trong bộc lộ tình cảm, hòa giải xích mích giữa các gia đình. Ngoài chiêng còn có cồng, khèn bầu cũng được người Xtiêng ưa thích.